|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2025/HS-PT
Ngày: 24/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.
Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLPT-HS ngày 08/4/2025 đối với bị cáo Hà Thị M do có kháng cáo của bị hại bà Má Thị P đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo:
Họ và tên: Hà Thị M; tên gọi khác: không có; giới tính: nữ; sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; là Đảng viên Đ (đã bị khai trừ theo Quyết định của UBKT huyện ủy L) bố đẻ: Hà Văn T, sinh năm 1944; mẹ đẻ: Đồng Thị T1 (đã chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ tư; chồng: Hà Văn H1, sinh năm 1974. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại có kháng cáo: Bà Má Thị P, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Chị Ngô Thị G, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thị M, sinh năm 1972 trú tại thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang và bà Má Thị P, sinh năm 1969 ở cùng thôn do có mâu thuẫn cá nhân với nhau từ trước nên khoảng 09 giờ ngày 09/10/2024, tại cửa quán ăn sáng nhà chị Ngô Thị G, sinh năm 1985 ở cùng thôn, bà P nhìn thấy M điều khiển xe mô tô đi qua nên nói “Mẹ cái con cứ nhìn thấy cháu nó lại cắn”, nghe thấy thế nên M điều khiển xe mô tô đi qua một đoạn rồi đỗ lại nhặt 02 viên gạch (đều có kích thước 20,5x9x5,5 cm) cầm mỗi tay 01 viên đi đến gần chỗ bà P. Sau đó, hai người xảy ra xô xát, cãi chửi nhau, M cầm 01 viên gạch ném về phía bà P nhưng không trúng, bà P nhặt viên gạch này ném lại về phía Mến nhưng không trúng. Mến cầm 01 viên gạch còn lại đi đến cửa quán ăn K về phía bà P, lúc này chị G và bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1955 (mẹ chị G) đi đến can ngăn nên M lùi lại đi ra đường đứng. Bà P chạy vào quán lấy 01 con dao dài 45cm đi ra gần chỗ M khua khoắng về phía Mến để doạ, M cầm viên gạch bằng tay trái giơ lên đập một cái trúng vào vùng miệng bà P làm bà P bị chảy máu ngã ra đường, M vứt viên gạch xuống đường rồi bỏ đi, bà P được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu, điều trị từ ngày 09/10/2024 đến 17/10/2024 thì ra viện.
Sau khi tiếp nhận tin báo, hồi 10 giờ 05 phút ngày 09/10/2024, Công an xã M đã kiểm tra, xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc và thu giữ: 01 viên gạch màu nâu đỏ, kích thước (20,5x9x5,5)cm, một mặt bám dính chất màu nâu đỏ đã khô nghi là máu; 01 viên gạch màu nâu đỏ, kích thước (20,5x9x5,5)cm; 01 con dao dài 45cm, chuôi gỗ; thu dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu tại hiện trường. Hồi 11 giờ ngày 09/10/2024, Công an xã M thu giữ dữ liệu điện tử là 01 đoạn video có thời lượng 03 phút 25 giây và 01 đoạn video có thời lượng 01 phút 27 giây tại hệ thống camera an ninh nhà chị G ghi lại toàn bộ diễn biến sự việc Mến đánh gây thương tích cho bà P.
Ngày 16/10/2024, Công an xã M chuyển hồ sơ và tài liệu liên quan đến Cơ quan điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 26/11/2024, bà P có đơn đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hà Thị M.
Tại phiếu khám bệnh vào viện của Bệnh viện đa khoa tỉnh B, xác định bà P vào viện hồi 10 giờ 09 phút ngày 09/10/2024 với biểu hiện đau đầu, chóng mặt, buồn nôn; vết thương xẻ môi trên, chảy nhiều máu.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2704/24/KLTTCT-TTYT ngày 29/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Má Thị P như sau: “Thương tích vết sẹo môi trên kích thước nhỏ 3%, thương tích vết sẹo niêm mạc môi trên kích thước nhỏ 1%; tổng tỷ lệ thương tích là 4%. Các thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng”.
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 2704B/24/KLVGTT- TTPY ngày 31/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: “Viên gạch bằng đất nung, màu nâu đỏ, hình hộp chữ nhật, các cạnh tự vỡ một phần, kích thước (20,5x9x5,5)cm, vật tày gây được thương tích. Viên gạch có thể gây ra được các thương tích cho Má Thị P".
Tại Kết luận giám định số HT635.24/PY-XNSH ngày 08/11/2024 của V kết luận: “Dấu vết màu nâu đỏ ở trên viên gạch gửi giám định và dấu vết màu nâu đỏ được thấm hút bằng tăm bông thu tại hiện trường là máu người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của bà Má Thị P”.
Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Hà Thị Mến về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
* Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: bị cáo Hà Thị M 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo M cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát, giáo dục trong chấp hành thời gian thử thách của án treo.
Về trách nhiệm dân sự:
căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 17.981.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng) mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
* Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 05/3/2025 bị hại Má Thị P có đơn kháng cáo với nội dung:
Đề nghị Toà án cấp sơ thẩm chuyển mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 08 tháng tù, cho hưởng án treo sang 08 tháng tù giam. Buộc bị cáo phải trả cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) còn nợ.
* Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày:
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo M cho hưởng án treo là nhẹ. Bị cáo hiện đang nợ bị hại 10.000.000 đồng, có hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, tuy nhiên, sau khi được giải thích bị hại xin rút nội dung kháng cáo yêu cầu buộc bị cáo phải trả số tiền 10.000.000đồng. Bị hại chỉ giữ nguyên kháng cáo đề nghị xử nghiêm đối với bị cáo M.
* Bị cáo trình bày:
bị cáo không đồng ý với kháng cáo của bị hại. Nguyên nhân xảy ra sự việc là do bị hại chửi bị cáo trước, có hành vi dùng dao đe doạ bị cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Má Thị P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hà Thị M 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo M cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát, giáo dục trong chấp hành thời gian thử thách của án treo.
Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 981.000 đồng số tiền còn phải bồi thường theo biên lai số 0003042 ngày 28/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền án phí HSST và án phí DSST theo biên lai số 0003042 ngày 28/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Do kháng cáo không được chấp nhận, bị hại Má Thị P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị hại Má Thị P nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
- [3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như vật chứng đã thu hồi. Phù hợp với nội dung 02 đoạn video (01 đoạn dài 03 phút 25 giây và 01 đoạn dài 01 phút 27 giây) của camera an ninh gia đình chị Ngô Thị G, ghi lại diễn biến sự việc cố ý gây thương tích; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 09 giờ ngày 09/10/2024, tại khu vực trước cửa nhà chị Ngô Thị G ở thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do có mâu thuẫn vì bà Má Thị P cho rằng Hà Thị M nợ tiền chưa trả nên bà M đã chửi chị P dẫn đến hai bên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau; Hà Thị M có hành vi dùng tay trái cầm viên gạch kích thước (20,5x9x5,5)cm, đập một nhát trúng vào vùng miệng làm bà P bị rách môi trên, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% sức khoẻ.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản án số 12/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo bị cáo theo tội danh, điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4] Xét kháng cáo của bị hại Má Thị P, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [5] Đối với kháng cáo không chấp nhận mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo, đề nghị chuyển hình phạt từ treo sang tù giam.
- [6] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo dùng viên gạch đánh gây thương tích cho bà P, vì vậy thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” theo tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTP Toà án nhân dân Tối cao. Do đó, phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [7]. Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- [8]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [9]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Tại cấp sơ thẩm, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp số tiền 17.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; nguyên nhân dẫn đến sự việc phạm tội cũng một phần do lỗi người bị hại khi có lời nói xúc phạm bị cáo trước và khi xảy ra xô xát có dùng dao khua khoắng chống trả lại bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có bố, mẹ đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng cho bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- [10]. Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo Hà Thị M 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng là có căn cứ.
- [11]. Tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp bổ sung biên lai thu số tiền 981.000đồng là số tiền còn lại phải bồi thường theo quyết định của Bản án sơ thẩm theo biên lai số 0003042 ngày 18/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Đây là tình tiết mới ở cấp phúc thẩm cần xem xét cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [12]. Xét bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, bản thân bị cáo đã bồi thường đủ số tiền cho bị hại, cho thấy bị cáo đã ăn năn, hối cải, mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Việc Toà án cấp sơ thẩm không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật.
- [13]. Đối với kháng cáo buộc bị cáo phải trả cho bị hại số tiền còn nợ là 10.000.000 đồng. Xét thấy, nội dung kháng cáo này của bị hại không liên quan đến nội dung vụ án gây thương tích. Mặt khác, tại phiên toà bà P đã xin rút kháng cáo về nội dung này. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu có căn cứ bị hại có thể khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác theo quy định pháp luật.
- [14]. Từ những phân tích nêu trên, HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Má Thị P. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.
- [15]. Đối với số tiền 981.000 đồng (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại, xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang theo biên lai số 0003042 ngày 28/5/2025. Bị hại Má Thị P được nhận số tiền 981.000đồng (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
- [16]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Kháng cáo của bị hại được không đượcchấp nhận nên bị hại phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- [17]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Má Thị P. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, xử:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hà Thị M 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo M cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát, giáo dục trong chấp hành thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 981.000 đồng (Chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) tiền bồi thường còn lại theo biên lai thu số 0003042 ngày 28/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Xác nhận bị cáo đã nộp xong 200.000đồng án phí HSST và 300.000đồng án phí DSST theo biên lai thu số 0003042 ngày 28/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Bị hại Má Thị P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 83/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 83/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 24/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLPT-HS ngày 08/4/2025 đối với bị cáo Hà Thị M do có kháng cáo của bị hại bà Má Thị P đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
