Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14-4-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Luyến

Ông Phạm Mạnh Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1988; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường L (nay là phường Đ), quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B phố O, vùng F, thành phố S, bang New South W, Úc; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Khổng Hữu K, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường L (nay là phường Đ), quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B phố O, vùng F, thành phố S, bang New South W, Úc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18/02/2025 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Khổng Hữu K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 09/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Sau hơn 10 năm chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về công việc, lối sống. Cuối năm 2023, chị H và anh K sang Úc sinh sống, để thay đổi môi trường sống và hàn gắn quan hệ vợ chồng, nhưng không kết quả. Mặc dù vẫn sống chung một nhà, nhưng chị H và anh K đã ly thân hơn một năm nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn nên chị H yêu cầu ly hôn anh K.

Về con chung: Chị H và anh K có 02 con chung là Khổng Thanh T, sinh ngày 01/6/2012 và Khổng Thùy D, sinh ngày 29/6/2018. Chị H đề nghị giao 02 con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 18/02/2025 bị đơn anh Khổng Hữu K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, mâu thuẫn của vợ chồng như trình bày của chị H. Anh K cũng xét thấy không còn tình cảm với chị H nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh K có 02 con chung như trình bày của chị H. Anh K đồng ý với yêu cầu nuôi con của chị H.

Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Anh K không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký thường trú tại Hải Phòng, hiện nay đều đang ở Úc. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Khổng Hữu K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh K đều xác nhận vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về lối sống, hiện đã sống ly thân, không còn quan tâm trách nhiệm, không còn tình cảm vợ chồng. Chị H yêu cầu ly hôn, anh K đồng ý. Xét hôn nhân của chị H và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[4] Về con chung: Chị H và anh K xác nhận có 02 con chung là Khổng Thanh T, sinh ngày 01/6/2012 và Khổng Thùy D, sinh ngày 29/6/2018. Xét việc thoả thuận nuôi con của chị H và anh K là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của các con chung, phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận. Cần giao 02 con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh K không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về tài sản chung: Chị H và anh K không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, các điều 273, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Khổng Hữu K.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Khổng Thanh T, sinh ngày 01/6/2012 và Khổng Thùy D, sinh ngày 29/6/2018 cho anh Khổng Hữu K trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001135 ngày 12/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Khổng Hữu K có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP. Hải Phòng;
  • - UBND xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Hùng

Nguyễn Thị Luyến

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger