|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/HS-ST Ngày 06 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Thanh Bình
Ông Nông Trung Kiên
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:
Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng N; tên gọi khác: Không; sinh năm: 2003, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Đàm Thị O; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Tại Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 16/9/2024, Nguyễn Hồng N bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bị cáo chưa đi thi hành bản án này).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/5/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn; đến ngày 13/11/2024, bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Ngô Minh C, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Căn hộ C thuộc toà A - Dự án tổ hợp công trình dịch vụ công cộng, văn phòng và nhà ở SunSquare tại số B L, tổ dân phố A, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Đàm Mạnh H1, sinh ngày 06/6/2011. Người đại diện hợp pháp của cháu H1: Chị Hà Thị X, sinh năm 1984. Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
2. Chị Lò Thị D, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Bản L, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
3. Chị Đàm Thị O, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2023, Nguyễn Hồng N kinh doanh bán hoa quả, sữa chua tại nhà ở thôn H, xã T, huyện Đ. Trong thời gian kinh doanh, chị Ngô Minh C thường mua hàng tại quán của N và hai người quen biết nhau, nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị C. Để tạo lòng tin với chị C, ngày 30/3/2023 N nhắn tin qua tài khoản Zalo cho chị C với nội dung có khách đặt mua 100 kiện sữa chua nhưng N không đủ vốn, N rủ chị C cùng góp vốn kinh doanh chị C chỉ cần góp 2.000.000 đồng, còn việc nhập và bán sữa chua do N tự làm, sau khi bán được hàng N sẽ trả lại tiền góp vốn và chia tiền lãi cho chị C 500.000 đồng. Chị C đồng ý và chuyển 2.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của chị C sang tài khoản ngân hàng của N để góp vốn kinh doanh. Sau khi nhận số tiền trên, N không sử dụng vào việc kinh doanh mà đến ngày 01/4/2023 N chuyển khoản lại cho chị C 2.500.000 đồng, trong đó 2.000.000 đồng là tiền của chị C góp vốn và 500.000 đồng tiền lãi là do N tự bỏ ra. Cùng ngày, để chiếm đoạt tiền của chị C, N nhắn tin qua Z rủ chị C góp vốn 10.000.000 đồng để cùng kinh doanh sữa chua, nội dung thỏa thuận giống với lần góp vốn trước và hẹn sau khi bán được hàng N sẽ trả lại tiền góp vốn 10.000.000 đồng và chia tiền lãi cho chị C 2.500.000 đồng, chị C tưởng thật nên đồng ý. Ngày 02/4/2023, chị C chuyển 8.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của mình sang tài khoản ngân hàng của N. Cùng ngày, chị C đến nhà N để đưa 2.000.000 đồng, do N không có nhà nên chị C đưa 2.000.000 đồng cho anh họ của N là cháu Đàm Mạnh H1 để đưa lại cho N. Sau khi nhận được 10.000.000 đồng của chị C, N đã chuyển 10.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của mình sang tài khoản ngân hàng của chị Lò Thị D để trả nợ tiền trước đây N mượn chi tiêu cá nhân. Chị C đã nhiều lần liên lạc với N để đòi tiền góp vốn kinh doanh nhưng N nói dối là đang chờ khách chuyển trả tiền hàng nên chưa trả được, sau đó N cắt liên lạc với chị C rồi bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 03/7/2023, chị C làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Điện Biên giải quyết buộc N phải trả lại cho chị số tiền góp vốn trên. Ngày 15/7/2024, Toà án nhân dân huyện Điện Biên chuyển hồ sơ vụ kiện dân sự đến Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản cáo trạng số: 20/CT-VKSHĐB ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Hồng N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174/BLHS.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị hại đã nhận 12.000.000 đồng từ bà O, là mẹ đẻ của bị cáo. Bị hại có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời
khai, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụ án Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu H1 và người đại diện trình bày: Sau khi nhận 2.000.000 đồng từ bà C, cháu H1 đã đưa lại số tiền này cho bị cáo, cháu H1 không biết số tiền này là tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của chị C. Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì; về trách nhiệm hình sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị O trình bày: Bà là mẹ đẻ của bị cáo, do bị cáo đã tác động và nhờ bà trả lại tiền cho bị hại nên bà đã tự nguyện thay bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại và bồi thường thêm cho bị hại, tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Bà không yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại số tiền trên cho mình.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 03 tháng tù tại Bản án số 77/2024/HS-ST_ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo phải chấp hành từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại; cháu H1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp có đơn xin xét xử vắng mặt; chị D người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do. Xét thấy, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong các ngày 01 và 02/4/2023, tại thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Nguyễn Hồng N có hành vi gian dối đưa ra thông tin sai sự thật là rủ chị Ngô Minh C cùng góp vốn kinh doanh bán sữa chua và chia lãi, làm cho chị C tin đó là sự thật. Bị cáo đã chiếm đoạt được của chị C 10.000.000 đồng, mục đích để trả nợ tiền tiêu xài cá nhân. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã hoàn thành. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại từ hành vi của mình, nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước đối với những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 10.000.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất an toàn và bức xúc cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Nhân thân: Ngày 16/9/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Bản án này đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cáo chưa đi thi hành án do đang bị tạm giam để phục vụ giải quyết vụ án này.
Tình tiết tăng nặng: Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của vụ án này trước khi bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nhiệm hình sự là Tái phạm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động để mẹ đẻ bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mẹ đẻ của bị cáo là bà Đàm Thị O được Bộ G và Đào tạo tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, được T tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Mẹ đẻ bị cáo là bà Đàm Thị O đã thay bị cáo trả lại tài sản đã chiếm đoạt và bồi thường thiệt hại cho bị hại 12.000.000 đồng tiền mặt theo biên bản ngày 20/02/2025 (trong đó: 10.000.000 đồng là tiền bị cáo N đã lừa đảo chiếm đoạt của bà C, 2.000.000 đồng là tiền bà O tự nguyện bồi thường thêm cho bà C), việc thỏa thuận của các bên là tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 574, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự; Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng chấp nhận sự thỏa thuận này.
Đối với số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) bà Đàm Thị O tự nguyện thay bị cáo bồi thường cho bị hại, bà O không yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại cho mình nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án: Chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu xanh, kèm sim thuê bao số 0377.087.963 N sử dụng vào việc phạm tội. Tại Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với chiếc điện thoại trên, nên Hội đồng xét xử không xử lý trong vụ án này.
[8] Các vấn đề khác:
Đàm Mạnh H1 là người nhận hộ bị cáo 2.000.000 đồng từ bị hại, H1 đã đưa lại số tiền này cho bị cáo, khi nhận H1 không biết số tiền này là tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bị hại nên Cơ quan điều tra không không đề cập xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Lò Thị D là người đã nhận 10.000.000 đồng của bị cáo qua tài khoản ngân hàng, trong đó có 8.000.000 đồng là bị cáo chiếm đoạt của bị hại, qua xác minh làm rõ số tiền này là bị cáo chuyển để trả nợ tiền tiêu xài cá nhân cho chị D, khi nhận tiền chị D không biết đây là tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bị hại nên Cơ quan điều tra không không đề cập xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự;
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 10 (Mười) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù tại Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Hình phạt chung bị cáo Nguyễn Hồng N phải chấp hành là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 15/5/2024).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 574, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận của bà Đàm Thị O mẹ đẻ bị cáo và bị hại về việc trả lại tài sản đã chiếm đoạt và bồi thường thiệt hại theo biên bản ngày 20/02/2025.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/3/2025). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/3/2025). Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Châm |
Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 83/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hồng Nh phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
