Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HS-ST

Ngày: 28/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải

Ông Nguyễn Đăng Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm theo hình thức xét xử trực tuyến thụ lý số 86/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại 02 điểm cầu là Hội trường xét xử tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T, sinh năm 1992 (Tên gọi khác: V)

HKTT: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963; Gia đình có 05 anh em, bị can là con thứ tư; Vợ Dương Thị H1, sinh năm 1987; Có 01 con, sinh năm 2013; Tiền sự: Không

Tiền án: Có 03 tiền án, cụ thể:

  • + Bản án số 281/2014/HSST ngày 18/4/2014 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt T 18 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuân chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 10/5/2015.
  • + Bản án số 04/2017/HSST ngày 13/01/2017 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuân chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 23/9/2017.
  • + Bản án số 53/2019/HSST ngày 30/5/2019 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt T 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuân chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 06/02/2024.

- Nhân thân:

  • + Ngày 23/02/2013 bị Công an xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản. T đã chấp hành xong năm 2013.
  • + Ngày 01/02/2016 bị Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản. T đã chấp hành xong năm 2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại điểm cầu thành phần)

- Người tham gia tố tụng khác:

  1. Bà Nguyễn Thị C – Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
  2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 06/11/2024, tại khu phố C, phường Đ, thành phố T, T gặp và mua được của 01 người phụ nữ không quen biết 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc, bên trong mỗi gói chứa 01 viên nén màu hồng là ma tuý ngựa với giá 120 .000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác. Sau khi mua được ma tuý, T cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ đi tìm nơi sử dụng. Đến hồi 21 giờ 15 phút cùng ngày khi T vẫn đang ở khu phố C thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Ngoài ra, T khai nhận ngày 05/11/2024, tại khu phố C, T gặp và mua được của 01 thanh niên không quen biết 01 gói ma tuý Heroine với giá 100.000 đồng. Sau đó, T đã sử dụng hết tại khu phố C.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc, bên trong mỗi gói chứa 01 viên nén màu hồng.

Tại Kết luận giám định số 2603/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “02 viên nén màu hồng bên trong 02 (hai) gói nhỏ đều được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc (đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng) có khối lượng là 0,1129 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.”

Tại Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-TS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu và nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/11/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn.

Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 06/11/2024, tại khu phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninhễn Đình T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1129 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
  4. [4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  5. [5] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. [6] Về vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
  7. [7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Tuân ngày 05/11/2024, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính T bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp pháp luật.
  8. [8] Liên quan trong vụ án này có người thanh niên đã bán ma tuý cho T ngày 05/11/2024 và người phụ nữ đã bán ma tuý cho T ngày 06/11/2024. Quá trình điều tra, T khai không biết tên tuổi và địa chỉ của 02 người này. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  9. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  10. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Về hình phạt: Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 ( S1) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/11/2024. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đình T 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định, đã được Phòng K công an tỉnh B niêm phong, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “ Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Đình T SN1992 ở T, P, Thái Nguyên phạm tội về ma túy”.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS TP. Từ Sơn;
  • - CQ thi hành án hình sự CA tỉnh BN;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 83/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình T Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger