Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/DS-PT

Ngày 26 - 02 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 560/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 340/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 425/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Đỗ Văn S: Bà Nguyễn Tố N, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số H, Đ, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 30 tháng 10 năm 2023, có mặt).

- Bị đơn:

  1. Bà Lê Ánh N1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Trường H, sinh năm 1966 (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, ông Nguyễn Trường H tranh luận: Bà Trần Kim X – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1964 (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1940 (vắng mặt).
  3. Ông Đặng Văn T1 (vắng mặt).
  4. Ông Đặng Long H1 (vắng mặt).
  5. Ông Đặng Long H2 (vắng mặt).
  6. Ông Đặng Phi Đ (vắng mặt).
  7. Ông Đặng Phi L1 (vắng mặt).
  8. Bà Đặng Lệ H3, sinh năm 1967 (vắng mặt).
  9. Ông Đặng Việt T2 (vắng mặt).
  10. Bà Đặng Huyền N2 (vắng mặt).
  11. Bà Đặng Huyền T3 (vắng mặt).
  12. Bà Đặng Tường L2 (vắng mặt).
  13. Ông Phạm Văn H4, sinh năm 1951 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

  1. Ủy ban nhân dân huyện Đ (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

  1. Ủy ban nhân dân xã T (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

  1. Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện Đ (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Lê Văn M (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Đỗ Văn S là nguyên đơn; ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Đỗ Văn S và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Tố N trình bày:

Vào năm 2001, ông S có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Trường H và bà Lê Thị N3 phần đường kinh xổ kích thước ngang mặt tiền 14m, ngang mặt hậu 06m, chiều dài 166m, với giá 6 lượng 2 chỉ 5 phân vàng 24k. Phần đất chuyển nhượng tại ấp T, xã T, huyện Đ.

Đến ngày 18/7/2004 hai bên làm biên bản hợp đồng chuyển nhượng đường xổ, thể hiện phần mương lộ xe ông M (anh vợ ông H) và ông H giao cho ông sử dụng là do phần này là đất của Nhà nước, chính quyền địa phương là ông Phan Xuân L3 (người ghi biên bản) nói đất của Nhà nước không được sang bán, ngay đất của ai thì người đó sử dụng nên không được thể hiện trong giấy sang nhượng, chữ “mượn” được ghi chèn vào biên bản không phải là chữ viết của ông L3, ông L3 đã có xác nhận vấn đề này và ông S đã cung cấp xác nhận của ông L3 cho Tòa án, ông S không biết ai ghi thêm chữ “mượn” vào biên bản, hiện tại bản gốc ông S không còn lưu giữ. Phần vàng chuyển nhượng ông S đã thanh toán đủ, đất ông S cũng quản lý sử dụng từ năm 2001 đến nay nhưng nhiều lần ông S yêu cầu ông H và bà N3 làm thủ tục chuyển tên nhưng không làm được do quyền sử dụng đất ông H và bà N3 đã thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng.

Nay ông S khởi kiện ông H, bà N3 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông H, bà N3 đối với phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 1.632,2m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Trước đây, ông S thỏa thuận chuyển nhượng đất của ông H và bà N3 là để làm đường xổ nư nên chuyển nhượng đến kênh Lộ xe. Vị trí đất chuyển nhượng yêu cầu công nhận cho ông S như sau: Hướng đông giáp đất bà N3, hướng tây giáp đất ông H4 và ông T4 đã chuyển nhượng cho ông S, hướng nam giáp kênh Lộ xe, hướng bắc giáp ông Nguyễn Tấn C.

- Bị đơn ông Nguyễn Trường H trình bày:

Ông H thừa nhận có chuyển nhượng của ông S một phần đất để làm đường xổ nước, kích thước như ông S trình bày là đúng. Riêng đường mương lộ xe và lộ xe ông S không chịu chuyển nhượng, ông cho rằng phần này của Nhà nước nên không đồng ý chuyển nhượng. Ông đồng ý công nhận cho ông S được hưởng phần đất ông đã chuyển nhượng theo đo đạc thực tế do ông xác định. Phần đất tranh chấp do bà N3 (vợ ông) đứng tên, ông yêu cầu ông S trả lại phần đất cho mượn diện tích theo đo đạc thực tế. Chữ mượn trong biên bản chuyển nhượng đất ngày 18/7/2004 được ông L3 thêm vào ngay thời điểm ghi biên bản do ông có yêu cầu, bản gốc do phía ông S quản lý. Trong biên bản chuyển nhượng có chữ ký của ông Lê Văn M (anh ruột của bà Lê Ánh N1), ông M chỉ tham gia chứng kiến chứ không có quyền lợi gì trong phần đất chuyển nhượng. Đối với phần ranh đất do ông và ông S xác định không thống nhất với nhau tại vị trí giáp với phần đất ông S nhận chuyển nhượng của ông H4 và ông T5 thì ông không yêu cầu xem xét, trước khi chuyển nhượng đất cho ông S thì giữa ông với ông H4 và ông T5 không có xảy ra tranh chấp ranh.

Quyền sử dụng đất của bà N1 hiện nay đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N4 chi nhánh huyện Đ, thời điểm vay ông không nhớ, số tiền vay 55.000.000 đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H4 trình bày: Trước khi ông chuyển nhượng đất cho ông S thì giữa ông với ông H, bà N1 không có tranh chấp ranh, khi ông chuyển nhượng đất cho ông S không có ông H và bà N1 chứng kiến giáp ranh. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo pháp luật, không đặt ra tranh chấp với ông H và bà N1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Lệ H3 trình bày: Bà là con của ông T5 và bà T, ông T5 chết năm 2022, hiện nay bà đang sống cùng bà T. Về phần đất chuyển nhượng của cha mẹ bà chuyển nhượng cho ông S bà được biết diện tích chuyển nhượng là 4.590m², phần giáp với ông H trước đây cha mẹ bà với ông H và bà N1 sử dụng không có tranh chấp. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định, không yêu cầu giải quyết việc tranh chấp ranh đất với ông H và bà N1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N4 trình bày: Ngày 14/11/2022, Ngân hàng và bà N1 có ký kết hợp đồng tín dụng, hạn mức cho vay là 100.000.000 đồng, số tiền nhận nợ là 60.000.000 đồng, lãi suất cho vay 10.7%/năm, lãi suất quá hạn 16.05%/năm, phương thức cho vay, hạn mức tín dụng, thời hạn tối đa là 36 tháng. Ngân hàng không khởi kiện bà N1 trong vụ án này, khi nào có phát sinh tranh chấp thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 340/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn S. Công hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn S với ông Nguyễn Trường H và bà Lê Ánh N1 lập ngày 19/3/2001 đối với phần đất diện tích 1.437,5m², đồng thời công nhận cho ông S được hưởng phần đất diện tích 194,7m², tổng diện tích công nhận cho ông S là 1.632,2m², gồm các thửa số 895, 896 tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Có vị trí tứ cận.

(Kèm theo mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 01/3/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ).

Ông Đỗ Văn S có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật.

  1. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Trường H. Buộc ông S trả giá trị đất đối với diện tích đất 194,7m² bằng 17.523.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/10/2024, ông Đỗ Văn S có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ngày 15/10/2024, ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đỗ Văn S, ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Tố N tranh luận: Khi chuyển nhượng do phần đất tranh chấp là mương lộ, bờ lộ thuộc quyền quản lý của Nhà nước nên không có quyền chuyển nhượng (được chính quyền địa phương xác nhận) nên khi chuyển nhượng phần đất bên trong thì được quyền sử dụng phần mương lộ. Hơn nữa, nếu chuyển nhượng đường nước để xổ vuông mà không có mương lộ thì không xổ nước vuông được. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, không buộc ông S trả cho ông H số tiền 17.523.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bà Trần Kim X tranh luận: Ông H không có chuyển nhượng phần đất mương lộ cho ông S nên ông H yêu cầu trả đất hoặc trả giá trị phần đất số tiền 97.350.000 đồng.

Bị đơn, ông Nguyễn Trường H không tranh luận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Huỳnh Thị L không tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn S, ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 340/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Đỗ Văn S, ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Đỗ Văn S, bà Lê Ánh N1, ông Nguyễn Trường H thống nhất trình bày năm 2001, ông H, bà N1 có nhận chuyển nhượng của ông S phần đất đường xổ nước có chiều dài 166m, chiều ngang mặt tiền 14m và hậu là 6m, với giá 6 lượng 2 chỉ 5 phân vàng 24k, hợp đồng chuyển nhượng được lập bằng giấy tay. Ông S đã nhận đất sử dụng; ông H, bà N1 đã nhận đủ số vàng trên. Như vậy, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được lập bằng văn bản nhưng không được công chứng, chứng thực và không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nên không tuân thủ hình thức theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, ông S đã nhận đất canh tác từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng, còn ông H, bà N1 đã nhận đủ số vàng theo giá trị hợp đồng nên án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông S với ông H, bà N1 là đúng quy định.

[2] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn trình bày không có yêu cầu kháng cáo đối với phần đất nhận chuyển nhượng theo đo đạc thực tế có diện tích 1.437,5m². Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đối với phần này.

[3] Ông S, ông H, bà N1 kháng cáo yêu cầu trả đất hoặc giá trị phần đất M6M12M3M4M5 và phần đất M13M14M15M16 có tổng diện tích 194,7m². Ông S cho rằng, khi ông chuyển nhượng đường nước xổ, thì phần đất tranh chấp là mương lộ và bờ lộ do Nhà nước quản lý nên không được sang bán và người có đất bên trong được sử dụng đất này. Bị đơn ông H, bà N1 trình bày cho ông S mượn sử dụng, không có chuyển nhượng phần đất nên yêu cầu ông S trả phần đất diện tích 194,7m² hoặc giá trị phần đất là 97.350.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18 tháng 7 năm 2004 có nội dung: “Về phần mương lộ xe và lộ xe anh M, anh H giao cho anh S sử dụng lâu dài, không được sang nhượng”. Ông Phạm Xuân L4 là Bí thư chi bộ ấp T, xã T, người đã viết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng trên xác nhận: “Vào năm 2004, ông là Bí thư chi bộ ấp và là người viết hợp đồng chuyển nhượng đường xổ nước vuông tôm cho ông M, H, N1 và ông Đỗ Văn S như Hợp đồng đã nêu là đúng.... Phần mương lộ xe và bờ là của Nhà nước quản lý, địa phương không cho chuyển nhượng. Nếu phần đất mương lộ xe và bờ lộ xe trên phần đất ai thì người đó được hưởng, sử dụng” (Bút lục số 11,12). Ngoài ra, tại bản vẽ đo đạc ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ thể hiện: Phần đất tranh chấp là diện tích lung cũ, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 1990) chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, phần mương lộ xe và bờ lộ xe là do Nhà nước quản lý nên địa phương không cho phép người dân chuyển nhượng là có cơ sở.

[4] Xét quá trình sử dụng đất, phần đất tranh chấp là mương lộ xe, bờ lộ xe do Nhà nước quản lý được ông S làm mương thoát nước vuông. Sau đó, được ông S san lắp mặt bằng, khoan cây nước ngầm và đóng tiền làm lộ khi Nhà nước làm lộ giao thông nông thôn và nối dài cống xổ nước đến mương lộ xe hiện tại. Như vậy, ông S mới là người sử dụng đất lâu dài từ khi chuyển nhượng đất từ năm 2004 đến nay nên ông S được tiếp tục sử dụng đất tranh chấp. Tại Công văn số 3378/UBND-VP ngày 17 tháng 9 năm 2024, Ủy ban nhân dân huyện Đ xác định: “Phần đất tranh chấp thuộc cá nhân quản lý. Quy hoạch đất nuôi trồng thuỷ sản. Điều kiện để phần đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2024” (Bút lục số 126). Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao phần đất này cho nguyên đơn có quyền quản lý, sử dụng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không buộc nguyên đơn trả cho bị đơn số tiền 17.523.000 đồng.

[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn S. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 340/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn S. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 340/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn S.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn S với ông Nguyễn Trường H và bà Lê Ánh N1 lập ngày 19/3/2001 đối với phần đất diện tích 1.437,5m² là có hiệu lực và ông Đỗ Văn S được quyền sử dụng phần đất diện tích 194,7m². Tổng diện tích hai phần đất là 1.632,2m², gồm các thửa số 895, 896, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Có vị trí như sau:

  • Hướng đông giáp phần đất còn lại của bà N1, gồm các điểm: M2, M12, M3, M4, M14, M15.
  • Hướng tây giáp đất ông S nhận chuyển nhượng của ông H4 và ông T4, gồm các điểm: M1, M10, M11, M6, M5, M13, M16.
  • Hướng nam giáp kênh Lộ xe gồm các điểm M15 và M16.
  • Hướng bắc giáp đất ông Nguyễn Tấn C gồm các điểm M1 và M2.

(Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 01/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ).

Ông Đỗ Văn S có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận theo quy định pháp luật.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Trường H về việc yêu cầu ông S trả phần đất (M6M12M3M4M5 và M13M14M15M16) diện tích 194,7m².
  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Trường H phải chịu 3.262.000 đồng. Ông S đã nộp xong chi phí tố tụng nên ông H phải trả cho ông Sĩ số tiền 3.262.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Văn S không phải chịu án phí. Ông Nguyễn Trường H phải chịu 300.000 đồng. Ông H có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đóng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000831 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chuyển thu án phí. Ông Nguyễn Trường H, bà Lê Ánh N1 phải chịu 300.000 đồng (chưa nộp).
  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Văn S không phải chịu. Ông Nguyễn Trường H được miễn nộp. Bà Lê Ánh N1 phải chịu án phí 300.000 đồng; ngày 15 tháng 10 năm 2024, bà N1 có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001947 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 83/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay ông S khởi kiện ông H, bà N3 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông H, bà N3 đối với phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 1.632,2m2 tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger