|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 83/2025/HS-ST Ngày: 20-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Văn Tám
- - Ông Trần Đăng Van
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa: Ông Ngụy Khắc V – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Minh T;
Sinh năm: 2002 tại Đồng Nai; Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: V (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 138/2021/HS-ST ngày 31/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T từ ngày 29/6/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Ông Châu Thanh H, sinh năm: 2000.
- Ông Đinh Quốc N, sinh năm: 2004.
Địa chỉ: H Khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Địa chỉ: 1 Đường số E, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1977.
- Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1986.
- Ông Lê Duy L1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: A L, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Địa chỉ: 3 B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Địa chỉ: C N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 02 giờ 00 phút ngày 25/5/2024, Võ Minh T đi bộ quanh khu vực sinh sống tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt. Khi đến trước dãy phòng trọ số 115/17/6 Đường số E, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, T phát hiện phòng trọ cuối cùng không đóng cửa sổ trên gác, nên T đến dãy trọ kế bên (cách đó 30m) lấy 01 thang sắt để phía trong hành lang rồi leo lên cửa sổ phòng trọ cuối cùng trong dãy trọ và nhìn vào, thấy bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax màu đen của ông Châu Thanh H đang cắm sạc pin dưới sàn, T thò tay qua cửa sổ lấy điện thoại ra khỏi dây sạc rồi cho vào túi quần và rời khởi hiện trường. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T đem chiếc điện thoại di động trên đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại “Hải Triều”, số A đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp Nguyễn Đình Đ (chủ tiệm) nói là điện thoại của T do quên mật khẩu nên hỏi mở khóa, Đ không nhận mở khóa nên T hỏi bán điện thoại trên, Đ đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng, số tiền này T tiêu xài cá nhân.
Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, T tiếp tục đến dãy nhà trọ số 115/17/21, Đường số E, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thấy phòng trọ số 01 của anh Đinh Quốc N không đóng cửa, T đẩy cửa bước vào thấy có 02 người nằm ngủ, có 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 pro màu xanh rêu đang cắm sạc để bên cạnh. T rút dây sạc lấy điện thoại trên rồi rời khởi hiện trường. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày, T bán điện thoại chiếm đoạt được cho Nguyễn Ngọc S tại phòng trọ của S, T nói điện thoại trên do cài nhiều mật khẩu nên quên và muốn bán xác, S đồng ý mua với giá 300.000 đồng, số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại di động trên, S mang bán cho Lê Duy L1 với giá 1.350.000 đồng.
Đến ngày 27/06/2024, trong khi T đang đi bộ ở khu vực xung quanh đường Số E, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì T bị người dân phát hiện, truy hỏi và báo cơ quan Công an mời về làm việc.
Kết luận định giá tài sản Số 305-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 28/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax màu đen có trị giá 9.063.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 pro màu xanh rêu có trị giá 7.230.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 16.293.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax màu đen (không thu hồi được).
- 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 pro màu xanh rêu (không thu hồi được).
- - 01 USB ghi nhận nội dung sự việc (kèm hồ sơ vụ án).
- 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo trong suốt, mặt sau có hình tròn thu giữ tại nhà của Võ Minh T đã trả lại cho Châu Thanh H.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Anh Châu Thanh H yêu cầu bồi thường 9.063.000 đồng.
- - Anh Đinh Quốc N yêu cầu bồi thường 7.230.000 đồng.
Cáo trạng số 45/CT-VKS-TPTĐ ngày 03/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Võ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Minh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, có thái độ khai báo đầy đủ, thành khẩn và xin xem xét giảm nhẹ.
- Nguyễn Đình Đ tự nguyện hỗ trợ Châu Thanh H 2.000.000 đồng và Châu Thanh H chỉ còn yêu cầu Võ Minh T bồi thường 7.063.000 đồng;
- Nguyễn Ngọc S tự nguyện hỗ trợ Đinh Quốc N 1.350.000 đồng và Đinh Quốc N chỉ còn yêu cầu Võ Minh T bồi thường 5.880.000 đồng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Minh T tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Lời khai của bị hại và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người biết sự việc; Phù hợp Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc ngày 25/5/2024; Bản ảnh trong hồ sơ; Kết luận định giá tài sản số 305-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá - Ủy ban nhân dân Thành phố T; Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 25/5/2025 tại địa chỉ số 115/17/6 và ngày 07/6/2024 tại địa chỉ 115/17/21, cùng Đường số E, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Võ Minh T đã lần lượt có hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax màu đen của Châu Thanh H có giá trị 9.063.000 đồng và chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 pro màu xanh rêu có giá trị 7.230.000 đồng của Đinh Quốc N. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 16.293.000 đồng. Là bị cáo Võ Minh T đã phạm Tội “Trộm cắp tài sản” trong trường hợp “trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Bị cáo Võ Minh T là thanh niên có sức khỏe và đã một lần bị xử phạt tù về tội chiếm đoạt tài sản nên biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng do tham lam muốn có nhiều tiền tiêu xài nhưng không phải lao động nên đã bất chấp, cố ý thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong thời gian ngắn, bị cáo đã liên tiếp lén lút chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax màu đen của Châu Thanh H có trị giá 9.063.000 đồng và điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 pro màu xanh rêu có trị giá 7.230.000 đồng của Đinh Quốc N, có tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 16.293.000 đồng. Hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo Võ Minh T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của người dân xung quanh. Tuy nhiên, cũng xét, bị cáo đã thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải. Khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần”, có hình phạt tù nghiêm khắc và tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Xét việc Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Ngọc S tự nguyện hỗ trợ và Châu Thanh H chỉ còn yêu cầu yêu cầu Võ Minh T bồi thường 7.063.000 đồng, Đinh Quốc N chỉ còn yêu cầu yêu cầu Võ Minh T bồi thường 5.880.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Nên nghĩ nên chấp nhận là phù hợp.
[5] Vật chứng vụ án:
- - 01 USB ghi nhận nội dung sự việc (kèm hồ sơ vụ án) nghĩ nên lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- - 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo trong suốt, mặt sau có hình tròn thu giữ tại nhà của Võ Minh T đã trả lại cho Châu Thanh H nên Tòa án không xem xét thêm.
[5] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ, sung năm 2017. Tuyên bố: bị cáo Võ Minh T phạm Tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ, sung năm 2017. Xử phạt: Võ Minh T 01 (Một) năm 08 (T1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 29/6/2024.
- Ghi nhận sự tự nguyện:
- - Nguyễn Đình Đ tự nguyện hỗ trợ Châu Thanh H số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng;
- - Nguyễn Ngọc S tự nguyện hỗ trợ Đinh Quốc N số tiền 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ, sung năm 2017. Buộc:
- - Võ Minh T phải bồi thường cho Châu Thanh H số tiền 7.063.000 (bảy triệu không trăm sáu mươi ba nghìn) đồng;
- - Võ Minh T phải bồi thường cho Đinh Quốc N số tiền 5.880.000 (năm triệu tám trăm tám mươi tám nghìn) đồng;
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các thường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 647.150 (sáu trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm năm mươi) đồng.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tùng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tùng |
Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 83/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Minh T- Trộm cắp tài sản
