Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 83/2025/DS-PT

Ngày 19-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 727/2024/TLPT-DS ngày 11/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1932; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961; có mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; có mặt.
  4. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975; có mặt.

Cùng địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Minh P, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  3. Ông Phạm Văn G, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2023, quá trình tố tụng giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn K có mối quan hệ quen biết nhau, qua nói chuyện nên ông K biết được bà T đang có nhu cầu cần nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông K nói gia đình ông K cũng có phần đất muốn chuyển nhượng nên các bên thỏa thuận giao dịch chuyển nhượng. Sau khi thỏa thuận, ngày 18/6/2019 hai bên ký với nhau hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và tài sản gắn liền trên đất nhằm để chuyển nhượng diện tích đất có chiều ngang 10m, chiều dài 50m tổng cộng 500m² thuộc một phần thửa đất số 64 tờ bản đồ số 61 tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Giá chuyển nhượng là 370.000.000 đồng, cùng ngày ký hợp đồng 18/6/2019, bà T đã giao cho bên bị đơn số tiền 250.000.000 đồng, đồng thời bên phía bị đơn đã cắm mốc, chỉ ranh đất cho bà T. Bị đơn hứa khi nào các con của ông C về thì sẽ tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (các con của ông C đang ở nước ngoài vì dịch nên không về được). Sau đó bà T nhiều lần yêu cầu bị đơn ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhưng bên phía bị đơn cứ hẹn lần hẹn lượt cho đến nay không thực hiện. Hiện nay, bà T được và biết là gia đình bị đơn đã làm thủ tục thừa kế xong, phần đất chuyển nhượng cho bà T nay đã sang nhượng cho người khác và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu:

  • - Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và tài sản gắn liền trên đất ký ngày 18/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T với bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K để chuyển nhượng diện tích đất 500m² thuộc một phần thửa đất số 64 tờ bản đồ số 61 tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01968 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Nguyễn Văn Đ vô hiệu.
  • - Buộc bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K liên đới trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng.

Theo biên bản lấy lời khai các bị đơn bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K trình bày:

Do gia đình bị đơn có nhu cầu cần chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà T có nhu cầu cần nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ngày 18/6/2019 gia đình bị đơn (gồm bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K) và bà Nguyễn Thị T ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và tài sản gắn liền với đất để chuyển nhượng diện tích đất 10m x 50 =500m² thuộc một phần thửa đất số 64 tờ bản đồ 61 tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01968 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Nguyễn Văn Đ ngày 05/9/2014. Giá chuyển nhượng là 370.000.000 đồng, cùng ngày 18/6/2019 bên bà T đã đặt cọc cho gia đình bị đơn số tiền 250.000.000 đồng.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn có ý kiến như sau:

Bà Đỗ Thị M và ông Nguyễn Văn K đồng ý hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 18/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T với bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K; bà M và ông K đồng ý trả lại số tiền 250.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Văn T1 đồng ý trả lại số tiền 250.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc D, bà Nguyễn Thị Minh P, ông Phạm Văn G, ông Nguyễn Văn V:

Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc D, bà Nguyễn Thị Minh P, ông Phạm Văn G và ông Nguyễn Văn V biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng các ông bà vẫn vắng mặt không có lý do cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Nguyễn Thị T đối với bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn K.
  2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và tài sản gắn liền trên đất ký ngày 18/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T với bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K để chuyển nhượng diện tích đất 500m² thuộc một phần thửa đất số 64 tờ bản đồ số 61 tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01968 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Nguyễn Văn Đ vô hiệu.
  3. Bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị T tổng số tiền 325.000.000 đồng (ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà M kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông T1, bà N, ông K liên đới với bà M trả tiền cho nguyên đơn và không chấp nhận liên đới thanh toán khoản tiền chênh lệch là 75.000.000 đồng; bị đơn ông T1, bà N, ông K kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc các ông bà liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 325.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án như sau: bị đơn bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K đồng ý liên đới trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của các bị đơn bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và tài sản gắn liền trên đất ký ngày 18/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T với bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K để chuyển nhượng diện tích đất 500m² thuộc một phần thửa đất số 64 tờ bản đồ số 61 tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01968 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Nguyễn Văn Đ vô hiệu các đương sự không kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, bị đơn bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án như sau: Bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K đồng ý liên đới trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng.

[3] Xét thấy, tại cấp phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, sự thỏa thuận các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1 là người cao tuổi nên được miễn; bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K phải chịu theo quy định của pháp luật

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu.

[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị M; ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương như sau:
    1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và tài sản gắn liền trên đất ký ngày 18/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T với bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K là vô hiệu.
    2. Công nhận sự thỏa thuận của bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

    1. Về chi phí đo đạc, định giá: Bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K phải liên đới nộp số tiền 3.138.518 đồng (ba triệu một trăm ba mươi tám nghìn năm trăm mười tám đồng) để trả lại cho bà Nguyễn Thị T.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Đỗ Thị M, ông Nguyễn Văn T1 được miễn.
    • Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K phải liên đới chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  3. Án phí phúc thẩm:

    Trả lại cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K mỗi người 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo các Biên lai số 0000634, 0000635 cùng ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - TAND huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Huỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 83/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger