Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 83/2025/HS-ST

Ngày: 13/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  • 2. Ông Phạm Văn Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 13/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

Phạm Đức C - sinh năm 1986 tại Thanh Hoá; Nơi thường trú: Xóm B, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở: Số nhà B L, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; Con ông: Phạm Đức T và bà: Cao Thị T1; vợ: Mai Thị Huyền T2 (đã chết) và có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/9/2024, tạm giam ngày 04/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 28/9/2024, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T phối hợp với đội cảnh sát điều tra về tội phạm ma tuý Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại ngõ C M, phường Đ, thành phố T phát hiện Phạm Đức C và Bùi Thị Hồng H – sinh năm 1987, trú tại 2 L, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qúa trình kiểm tra C tự giác giao nộp cho tổ Công tác 02 gói giấy bạc màu hồng, kích thước mỗi gói khoảng kích thước (1,5x1)cm bên trong chứa 05 viên nén màu hồng, tổng 02 gói là 10 viên, C khai là hồng phiến cất dấu để sử dụng. Kiểm tra Bùi Thị Hồng H, tổ công tác không phát hiện, thu giữ được gì có liên quan đến ma tuý. Việc C cất dấu ma tuý trong người H không biết và không liên quan. Về nguồn gốc ma túy, Phạm Đức C1 khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, C một mình đi lên khu vực thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực bãi đất trống gần cây xăng đường 39 mét kéo dái, phía từ ngã tư đèn xanh, đèn đỏ C, phường P, thành phố T, C gặp một người thanh niên tự xưng là K(C không biết nhân thân lai lịch) và mua 10 viên hồng phiến và chia thành 02 gói để trong giấy bạc với giá 1.000.000đ. Sau khi mua được ma tuý C cất dấu trong người để sử dụng, rồi đi gặp bạn gái là chị Bùi Thị Hồng H để cùng nhau đi ăn tối. Khi đi đến ngõ C M, phường Đ, thành phố T thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật.

Tại bản giám định số 3640/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 10 viên nén hình tròn màu đỏ của phong bì gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,102g, loại Methamphetamine;

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKSTP ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Phạm Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS;

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt Phạm Đức C mức án từ 27 - 30 tháng tù; Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 20 giờ ngày 28/9/2024, tại ngõ C M, phường Đ, thành phố T, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T phối hợp với đội cảnh sát điều tra về tội phạm về ma tuý Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang Phạm Đức C có hành vi tàng trữ 1,102g ma túy, loại Methamphetamine.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của Phạm Đức C có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố là đúng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Căn cứ vào nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất nghiêm trọng của tội phạm ma túy, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với người nam thanh niên bán ma tuý cho C khu vực bãi đất trống gần cây xăng đường 39 mét kéo dái, phía từ ngã tư đèn xanh, đèn đỏ C, phường P, thành phố T, C không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[4] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong của phòng K1 Công an tỉnh T là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Đức C 27(hai bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2024.

Vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng K1 Công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K1, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Trần Thị T3.

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 44/2024/THA ngày 09/01/2025 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TPTH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TPTH;
  • - Nhà tạm giữ Công an TPTH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger