TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn và ông Tráng A Sủ.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Giàng A Khở - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; Mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:
Vàng Văn T; Sinh ngày 01/01/1975 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi thường trú: Bản TP, xã S, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày: 04/5/2024, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông: Vàng Văn Pàn (đã chết) và con bà: Lò Thị Kiến (đã chết); Bị cáo có vợ Lò Thị Bùn, sinh năm 1979 và có 03 người con;
Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện NP cho tới nay, có mặt.
Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện NP xử 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy bản án số 48/2019/HSST ngày 09/10/2019. Ngày 15/10/2020 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, đã được xóa án tích. Năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện NP quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án cai nghiện bắt buộc 20 tháng tại số 07/QĐ-TA ngày 07/4/2022, đến ngày 12/12/2023 chấp hành xong.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Lan – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/5/2024 Vàng Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản TP, xã S, huyện NP, tỉnh Điện Biên đến khu vực bờ suối Nậm Chim thuộc bản TP, xã S, huyện NP để đi chăn trâu. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày 31/5/2024 khi Vàng Văn T đi đến khu vực bờ suối thì gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu. Qua chào hỏi Vàng Văn T 01 gói giấy bạc, miệng gói được gấp lại, bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 100.000 đồng, Vàng Văn T mở ra xem đúng là Heroine, Vàng Văn T cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi tiếp tục đi chăn trâu, còn người đàn ông đó đi đâu làm gì T không rõ. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày Vàng Văn T đi từ khu vực bờ suối về nhà. Khi T đang trên đường đi về đến khu vực đầu bản TP, xã S, huyện NP thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Si Pha Phìn và Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên kiểm tra, phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của T gói ma túy của Vàng Văn T có khối lượng 0,16 gam. Vàng Văn T khai nhận đó là Heroine, T mua về nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng vụ án.
Ngày 01/6/2024 Công an huyện NP đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng Văn T là chất bột màu trắng đục nghi Heroine có khối lượng 0,16 gam và trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định.
Bản kết luận giám định số: 889/KL-KTHS, ngày 02/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục thu giữ của Vàng Văn T gửi đến giám định là chất ma túy. Loại Heroine.
Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định kèm theo.
Bản cáo trạng số: 64/CT-VKSNP ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Vàng Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Vàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bị cáo Vàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng Văn T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng vụ án: Gồm 0,12 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định). Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bà Nguyễn Thị Lan là người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn T nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Vàng Văn T là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học, thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Vàng Văn T nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện NP, không bổ sung gì với bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo Vàng Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong và lấy mẫu giám định ngày 31/5/2024; Kết luận giám định số: 889/KL-KTHS, ngày 02/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Vàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Vàng Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Vàng Văn T đã đi ngược lại với đường lối chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Vậy hành vi phạm tội của bị cáo Vàng Văn T cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Về nhân thân, bị cáo T có nhân thân xấu, năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện NP xử 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy bản án số 48/2019/HSST ngày 09/10/2019. Năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện NP quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án cai nghiện bắt buộc 20 tháng tại số 07/QĐ-TA ngày 07/4/2022, đến ngày 12/12/2023 chấp hành xong. Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình, nhằm sau này trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài hình phạt chính, qua xác minh, xét thấy bị cáo Vàng Văn T là người nghiện ma túy, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Về vật chứng vụ án: Gồm 0,12 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông dân tộc đã bán ma túy cho Vàng Văn T theo lời khai của Vàng Văn T do không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo Vàng Văn T không còn chứng cứ nào khác chứng minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo cho nên bị cáo phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với sô ma túy bị thu giữ.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP và người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn T là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Xét thấy gia đình bị cáo Vàng Văn T thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa, bị cáo Vàng Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Vàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam: 31/5/2024.
[2] Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định) theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Văn T.
[4] Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, báo bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án: 30/11/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |
5
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 01 năm 04 tháng tù
