Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/11/2024

V/v: “Ly hôn”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân

Ông Phạm Ngọc Diện

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 342/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1995.
  2. Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

  3. Bị đơn: chị Lưu Thị T, sinh năm: 1996.
  4. Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(anh M và chị T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: anh và chị Lưu Thị T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể chung sống được với nhau. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T vì vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Về con chung, anh Nguyễn Văn Minh X đinh vợ chồng có một con chung là Nguyễn Phương O, sinh ngày 22/10/2022, khi ly hôn anh M đề nghị giao con cho chị T nuôi dưỡng và anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.500.000đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung, anh M xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra anh M không còn yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn chị Lưu Thị T trình bày: chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn vào năm 2022 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được làm cho cuộc sống hai vợ chồng luôn căng thẳng, mệt mỏi, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 1/2024 cho đến nay. Nay anh M yêu cầu ly hôn thì chị đồng ý ly hôn. Về con chung, chị Lưu Thị T xác định vợ chồng có một con chung là Nguyễn Phương O, sinh ngày 22/10/2022, khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi con và yêu cầu anh M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.500.000đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung, chị T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra, chị T không còn yêu cầu gì khác.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải thì anh Nguyễn Văn M vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình còn chị T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do bận công việc nên anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn M. Về con chung: giao con là Nguyễn Phương O, sinh ngày 22/10/2022 cho chị Lưu Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí, buộc anh Nguyễn Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2022, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 03/3/2022. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của anh M và chị T là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên anh M làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng anh M và chị T phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong cách xử sự thì thiếu sự kiềm chế nên thường xảy ra bất hòa nên vợ chồng đã tự sống ly thân, mỗi người có một cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai. Do đó, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Văn M, xử cho anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T có một con chung là Nguyễn Phương O, sinh ngày 22/10/2022. Khi ly hôn anh M đề nghị giao con cho chị T nuôi dưỡng, xét thấy cháu Nguyễn Phương O là con gái, hiện nay vẫn chưa đủ 36 tháng tuổi nên giao con cho mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Mặt khác, từ khi ly thân cho đến nay cháu O vẫn do chị T nuôi dưỡng, bên cạnh đó, cả anh M và chị T cùng thống nhất giao con cho chị T nuôi dưỡng, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận sự tự nguyện này. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định cho cháu Nguyễn Phương O, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao con là Nguyễn Phương O, sinh ngày 22/10/2022 cho chị Lưu Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: trong quá trình giải quyết vụ án chị Lưu Thị T yêu cầu anh Nguyễn Văn M phải cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đ/tháng. Anh M đồng ý cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.500.000đồng/tháng nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của các đương sự.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T cùng xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84; Điều 110; Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của anh Nguyễn Văn M, xử cho anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T được ly hôn.
  2. Về con chung: giao con là Nguyễn Phương O, sinh ngày 22/10/2022 cho chị Lưu Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.500.000đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  1. Về án phí: anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Văn M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005112 ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, anh Nguyễn Văn M còn phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Anh Nguyễn Văn M và chị Lưu Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - UBND xã Phú Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Sơn Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn anh Nguyễn Văn M và bị đơn chị Lưu Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger