TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Minh Thâm.
- Bà Phạm Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 197/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Hồ Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1995; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc T1 và bà Trần Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án; Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Trần Công H, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2003; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T3 và bà Trần Thị Mỹ N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19 tháng 6 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 19 tháng 6 năm 2024) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Võ Tấn Đ, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2003; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh H1 và bà Lê Thị H2; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Lê Thanh S, sinh ngày 15 tháng 3 năm 2003; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S1 và bà Trần Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Võ Minh H1, sinh năm 1972; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1996; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2024, bị cáo Hồ Ngọc T rủ bị cáo Trần Công H và bị cáo Võ Tấn Đ góp tiền mua ma túy đá để cùng nhau sử dụng thì các bị cáo H, Đ đồng ý; bị cáo Trần Công H rủ bị cáo Lê Thanh S góp tiền mua ma túy đá để cùng nhau sử dụng thì bị cáo S đồng ý. Sau khi bàn bạc, bị cáo Đ đồng ý góp 100.000 đồng, bị cáo T đồng ý góp 50.000 đồng, bị cáo Hội đồng ý góp 250.000 đồng, bị cáo S đồng ý góp 100.000 đồng nên bị cáo Đ điều khiển xe mô tô biển số 77AF-033.56 thuộc quyền sở hữu của ông Võ Minh H1 đến gặp bị cáo T lấy 50.000 đồng, rồi bị cáo Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà của bị cáo H lấy 350.000 đồng là số tiền của bị cáo H và bị cáo S góp để mua ma tuý đá. Sau đó, bị cáo Đ sử dụng tài khoản Facebook tên “Võ Tấn Đ” của bị cáo Đ gọi cho người sử dụng tài khoản Facebook tên “Bờ Sông” nhưng không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và xin nỏ thủy tinh để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi thỏa thuận, thống nhất địa điểm giao nhận ma túy và nỏ thủy tinh, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô biển số 77AF-033.56 chở bị cáo H đến khu vực gò mả tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Tại đây, bị cáo Đ hướng dẫn bị cáo H đến vị trí ngôi mộ lấy gói ma túy đá và một bì ni lông đựng 02 nỏ thủy tinh. Sau khi mua được ma túy và nỏ thủy tinh, bị cáo H cất giấu trong người; bị cáo Đ lấy 500.000 đồng bỏ vào bao thuốc lá đặt xuống ngôi mộ để lại cho người bán ma túy. Sau đó, bị cáo Đ chở bị cáo H về khu vực mương nước gần cánh đồng lúa thuộc thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định thì gặp bị cáo S và bị cáo T. Do chưa có chai nhựa để lắp dụng cụ sử dụng ma túy nên bị cáo S điều khiển xe mô tô biển số 77C1-462.16 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn H3 chở bị cáo T đi mua chai nước suối và lưỡi dao lam rồi quay lại khu vực mương nước gần cánh đồng lúa để sử dụng ma túy. Tại đây, bị cáo Đ dùng lưỡi dao lam cắt miệng gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh, rồi các bị cáo S, T, Hội, Đ luân phiên nhau sử dụng. Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị Công an xã P tuần tra phát hiện, bị cáo S và bị cáo T ném dụng cụ sử dụng ma túy để phi tang nhưng bị Công an xã P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các đồ vật, dụng cụ liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng gắn nắp đậy màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu tím; 01 túi ni lông màu trắng; 01 quẹt gas màu trắng; 01 lưỡi dao lam; 04 cái tăm bông; 02 đoạn ống thủy tinh uốn cong, trong đó có một đoạn có bám dính chất màu trắng nghi là chất ma túy. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn tạm giữ của bị cáo Võ Tấn Đ 01 điện thoại di dộng hiệu vivo 1820 màu xanh đen và 01 xe mô tô biển số 77AF-033.56; tạm giữ của bị cáo Hồ Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6s Plus màu vàng đồng; tạm giữ của bị cáo Trần Công H 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s có viền màu xanh; tạm giữ của bị cáo Lê Thanh S 01 điện thoại di động hiệu iPhone 11 Pro Max màu xanh Midnight.
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của các bị cáo Hồ Ngọc T, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S, Trần Công H đều dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.
Theo Kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 22 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất rắn màu trắng (ký hiệu A1) bám dính bên trong 01 ống thuỷ tinh được uốn cong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0480 gam là ma tuý loại Methamphetamine; chất bám dính (ký hiệu A2) bên trong 01 ống thuỷ tinh được uốn cong gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng.
Ngày 01 tháng 10 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển số 77AF-033.56 ông Võ Minh H1 và trả lại chiếc xe mô tô biển số 77C1-462.16 cho ông Nguyễn Văn H3.
Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-TP ngày 25 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hồ Ngọc T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Lê Thanh S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Công H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Võ Tấn Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì ni lông, dán kín miệng bì bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của Phan Minh Đ1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Hoa C1, Võ Ngọc B, Nguyễn Trọng T5, Trần Công H, Hồ Ngọc T, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S và hình dấu tròn của Công an xã P (bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, gắn nắp đậy màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu tím, 01 túi ni lông màu trắng; 01 quẹt ga màu trắng, 01 lưỡi dao lam; 04 cái tăm bông); 01 bì thư số 295/KL-KTHS, dán kín, niêm phong dấu tròn phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của Huỳnh Kim T6, Nguyễn Thị Bích H4 và Ngô Thị Thùy D (bên trong gồm: Vỏ bì đựng mẫu vật, 02 nỏ thuỷ tinh được uốn cong và 0,0262 gam mẫu Al còn lại sau giám định). Tuyên tịch thu và sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu vivo 1820, màu xanh đen của bị cáo Võ Tấn Đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng đồng của bị cáo Hồ Ngọc T; 01 điện thoại di động hiệu vivo Y21s, viền màu xanh của bị cáo Trần Công H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, màu xanh midnight của bị cáo Lê Thanh S.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Bị cáo Hồ Ngọc T nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Trần Công H nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo không dám tái phạm.
Bị cáo Võ Tấn Đ nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo không dám tái phạm.
Bị cáo Lê Thanh S nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo không dám tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết luận: Vào tối ngày 20 tháng 6 năm 2024, vì muốn sử dụng ma túy nên bị cáo Hồ Ngọc T nhắn tin rủ bị cáo Trần Công H, bị cáo Võ Tấn Đ góp tiền, tìm mua ma túy để sử dụng; bị cáo Trần Công H rủ bị cáo Lê Thanh S góp tiền mua ma túy để sử dụng thì tất cả đều đồng ý. Sau khi bàn bạc và thống nhất, bị cáo H góp 250.000 đồng, bị cáo Đ góp 100.000 đồng, bị cáo T góp 50.000 đồng, bị cáo S góp 100.000 đồng để mua ma túy. Sau khi góp tiền, bị cáo Hồ Ngọc T chuẩn bị quẹt ga, tăm bông rồi cùng bị cáo Lê Thanh S đi mua 01 chai nước suối và 01 dao lam mục đích dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo Trần Công H cùng bị cáo Võ Tấn Đ đi mua ma túy loại Methamphetamine và nỏ thủy tinh dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi chuẩn bị ma tuý và các công cụ các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S đã cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực mương nước gần cánh đồng lúa thuộc thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
[3] Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S là những người có đủ năng lực để nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Nhận thức được như vậy nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi cùng góp tiền mua ma tuý và chuẩn bị dụng cụ để tổ chức sử dụng ma tuý Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã thực hiện là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Võ Tấn Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Trần Công H là người có nhân thân xấu, cụ thể ngày 19 tháng 6 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo như trên, lẽ ra xử phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc nhưng xét thấy sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo nhằm mục đích giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[7] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Hồ Ngọc T là người khởi xướng việc mua ma túy về sử dụng; sau khi các bị cáo bàn bạc và thống nhất về việc góp tiền mua ma túy để sử dụng thì bị cáo góp tiền và chuẩn bị 01 quẹt ga, 04 cái tăm bông rồi cùng với bị cáo Lê Thanh S đi mua 01 chai nhựa màu trắng, 01 lưỡi dao lam để làm công cụ sử dụng ma tuý. Đối với bị cáo Trần Công H đã thực hiện hành vi rủ bị cáo Lê Thanh S sử dụng trái pháp chất ma tuý; sau khi bàn bạc thống nhất việc sử dụng ma tuý bị cáo góp tiền để mua ma tuý; bị cáo cùng với bị cáo Võ Tấn Đ trực tiếp mua ma tuý; bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể 19 tháng 6 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng ngày 20 tháng 6 năm 2024 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó mức hình phạt đối với bị cáo Hồ Ngọc T và bị cáo Trần Công H tương đương nhau và nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác còn lại. Trong đó bị cáo Trần Công H phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên áp dụng Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo Võ Tấn Đ đã có hành vi tham gia bàn bạc và thống nhất việc góp tiền mua ma túy, bị cáo là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo Trần Công H đi mua ma túy để sử dụng. Lẻ ra mức hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn Đ nghiêm khắc hơn so với bị cáo Lê Thanh S. Tuy nhiên bị cáo Võ Tấn Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên mức hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn Đ và Lê Thanh S tương đương nhau.
[7] Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với 01 bì ni lông, dán kín miệng bì bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của Phan Minh Đ1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Hoa C1, Võ Ngọc B, Nguyễn Trọng T5, Trần Công H, Hồ Ngọc T, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S và hình dấu tròn của Công an xã P (Bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, gắn nắp đậy màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu tím, 01 túi ni lông màu trắng; 01 quẹt ga màu trắng, 01 lưỡi dao lam; 04 cái tăm bông) là công cụ mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội hiện không có giá trị nên tuyên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[8.2] Đối với 01 bì thư số 295/KL-KTHS, dán kín, niêm phong dấu tròn phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của Huỳnh Kim T6, Nguyễn Thị Bích H4 và Ngô Thị Thùy D (Bên trong gồm: Vỏ bì đựng mẫu vật, 02 nỏ thuỷ tinh được uốn cong và 0,0262 gam mẫu A1 còn lại sau giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tuyên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[8.3] Đối với 01 điện thoại di động hiệu vivo 1820, màu xanh đen, số IMEI1: 864164045362273, số IMEI2: 864161045362265 của bị cáo Võ Tấn Đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng đồng, số IMEI: 354985076939697 của bị cáo Hồ Ngọc T; 01 điện thoại di động hiệu vivo Y21s, viền màu xanh, số IMEI1: 861128059176930, số IMEI2; 861128059176922 của bị cáo Trần Công H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, màu xanh midnight, số IMEI 352847110191796 của bị cáo Lê Thanh S sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[9] Đối với xe mô tô biển số 77AF-033.56 và xe mô tô biển số 77C1-462.16: Qua điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của ông Võ Minh H1 và chiếc xe mô tô biển số 77C1-462.16 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn H3. Khi các bị cáo Trần Công H, Hồ Ngọc T, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy và dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy thì ông Võ Minh H1 và ông Nguyễn Văn H3 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại hai chiếc xe mô tô này và không xử lý hình sự đối với ông Võ Minh H1 và ông Nguyễn Văn H3 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[10] Đối với người sử dụng Facebook tên “Bờ Sông” bán ma tuý và cung cấp nỏ thủy tinh cho các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S: Qua điều tra, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác định nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý.
[11] Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Hồ Ngọc T, Lê Thanh S.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Võ Tấn Đ.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Công H.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc T, Trần Công H, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc T 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 21 tháng 6 năm 2024).
- Xử phạt bị cáo Trần Công H 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Buộc bị cáo Trần Công H phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 08 (T7) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 21 tháng 6 năm 2024).
- Xử phạt bị cáo Võ Tấn Đ 07 (B1) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 21 tháng 6 năm 2024).
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 07 (B1) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 21 tháng 6 năm 2024).
- Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu và tiêu huỷ 01 (Một) bì ni lông, dán kín miệng bì bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của Phan Minh Đ1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Hoa C1, Võ Ngọc B, Nguyễn Trọng T5, Trần Công H, Hồ Ngọc T, Võ Tấn Đ, Lê Thanh S và hình dấu tròn của Công an xã P (Bên trong có 01 (Một) chai nhựa màu trắng, gắn nắp đậy màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn 01 (Một) ống hút nhựa màu tím, 01 (Một) túi ni lông màu trắng; 01 (Một) quẹt ga màu trắng, 01 (Một) lưỡi dao lam; 04 (Bốn) cái tăm bông) và 01 (Một) bì thư số 295/KL-KTHS, dán kín, niêm phong dấu tròn phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của Huỳnh Kim T6, Nguyễn Thị Bích H4 và Ngô Thị Thùy D (Bên trong gồm: Vỏ bì đựng mẫu vật, 02 (Hai) nỏ thuỷ tinh được uốn cong và 0,0262 gam mẫu A1 còn lại sau giám định).
- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu vivo 1820, màu xanh đen, số IMEI1: 864164045362273, số IMEI2: 864164045362265 của bị cáo Võ Tấn Đ; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng đồng, số IMEI: 354985076939697 của bị cáo Hồ Ngọc T; 01 (Một) điện thoại di động hiệu vivo Y21s, viền màu xanh, số IMEI1: 861128059176930, số IMEI2: 861128059176922 của bị cáo Trần Công H; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, màu xanh midnight, số IMEI 352847110191796 của bị cáo Lê Thanh S.
- Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hồ Ngọc T, bị cáo Trần Công H, bị cáo Võ Tấn Đ, bị cáo Lê Thanh S mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27 tháng 11 năm 2024).
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
- - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- - Công an huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Minh |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xong
