Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HSST

Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Anh và ông Lê Kim Cảnh

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Ngọc Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Nguyễn Bảo Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở UBND xã N, huyện T tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1996 ( có mặt)

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Số CCCD: [...]; Cấp ngày 05/7/2022.

Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện T, Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Con ông: Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Hoàn

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/5/2024, đến ngày 29/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

2. Vũ Đình S; Sinh năm 1996 (Có mặt)

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Số CCCD: [...]; cấp ngày 27/02/2022.

Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện T, Thanh Hóa;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Con ông: Vũ Đình N và bà: Hà Thị L.

Chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/5/2024, đến ngày 29/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H :

    - Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, Ngô Văn P (đã chết tháng 7/2024), do biết H đang điều trị bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện T nên P bắt xe đến bệnh viện rồi đến phòng 226, tầng B khu N tầng gặp H để mua ma túy. Huấn dẫn P ra nhà vệ sinh tầng 2 và đưa cho P 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (loại giấy trong bao thuốc lá) bên trong chứa ma túy, còn P đưa cho H số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó, P bắt xe ra ngã tư G để mua xi-lanh rồi ra sân vận động huyện T để sử dụng bằng hình thức tiêm chích. Khi P vừa sử dụng xong thì bị Tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 (một) xi lanh đã qua sử dụng. Tại cơ quan điều tra, P khai nhận mua ma túy của H.

    Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H ở phòng 226 khoa Nội 1 bệnh viện đa khoa huyện T, thu giữ:

    • + 01 (một) túi ni lông màu trắng có mép dính màu đỏ bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng cục nghi là ma túy, bên trong túi quần phía trước bên phải Nguyễn Văn H đang mặc.
    • + Số tiền 3.040.000đ, thu giữ bên trong túi quần phía trước bên phải Nguyễn Văn H đang mặc. (Trong đó, có 500.000đ là số tiền thu lợi từ việc bán ma túy cho P).
    • + Điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0398.319.103, đã cũ đã qua sử dụng, trên giường bệnh của Nguyễn Văn H.

    - Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Ngoài lần bán ma túy cho Ngô Văn P vào ngày 20/5/2024 thì H còn bán cho P vào khoảng 17 giờ ngày 19/5/2024, P gọi điện cho H để hỏi mua ma túy thì H đồng ý và hẹn gặp ở bệnh viện đa khoa huyện T. Đến nơi, P gặp H đang đi bộ nên P và H đi bộ vào nhà vệ sinh cạnh thang máy tầng 1. Khi vào nhà vệ sinh thì H đưa cho P 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy. Do không có tiền mặt nên P bảo chuyển khoản nhưng H không có tài khoản ngân hàng. P và H đi ăn, P chuyển khoản 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) cho chủ quán, chủ quán đưa tiền thừa là 45.000đ (Bốn mươi lăm nghìn) cho P rồi P đưa cho H. Số tiền này H đã dùng để mua nước ngọt và thuốc lá.

  2. Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của S và nguồn gốc ma túy thu giữ tại bệnh viện và ma túy bán cho Ngô Văn P là Nguyễn Văn H nhờ Vũ Đình S mua ở thị xã S, Hà Nội với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng) vào ngày 17/5/2024. Cụ thể:

    - Vào khoảng 13 giờ ngày 17/5/2024, H cùng với S đi xe khách ra bến xe G, thành phố Hà Nội, rồi tiếp tục bắt xe đi đến bến xe thị xã S. H đưa cho S số tiền 4.000.000đ ( bốn triệu đồng), H đứng ở bến xe đợi S. Còn S đi đến số nhà E ở cuối ngõ (đối diện bến xe khoảng 500 mét), S gõ cửa sổ thì có một người phụ nữ khoảng 60 tuổi mở cửa sổ, S đưa tiền cho người phụ nữ rồi người này đưa lại cho S 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong là 01 (một) túi ni-lông màu trắng có mép dính màu đỏ chứa chất rắn màu trắng dạng cục là heroine. Sử bỏ vào túi quần rồi quay lại bến xe gặp H. Sau đó, S và H bắt xe ngược trở lại để về huyện T. Khi về đến bệnh viện huyện T, H cho S một ít ma túy để sử dụng.

    Ngày 20/5/2024, Vũ Đình S đã đến Công an xã Đ đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

  3. Việc thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra:

    - Tại Bản kết luận giám định số 1995/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,717g (không phẩy bảy một bảy gam), loại: Heroine.

    - Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu Ngân hàng S2 – chi nhánh T5 (S3) cung cấp thông tin đăng ký tài khoản, lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng từ ngày 18/5/2024 đến ngày 20/5/2024 của số tài khoản 030093625273 mang tên Ngô Văn P. Kết quả: Vào lúc 17 giờ 45 phút 59 giây ngày 19/5/2024, Ngô Văn P đã chuyển khoản cho Lê Thị H1 (chủ quán bún chả) theo đúng như lời khai của P và H.

    - Ngày 27/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất 02 (hai) video từ camera an ninh tại bệnh viện đa khoa huyện T vào thời gian từ 17 giờ 09 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 19/5/2024 tại hành lang tầng 1 khoa cấp cứu và thời gian từ 12 giờ 15 phút đến 12 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, các video này được lưu trữ vào 01 đĩa DVD-R màu vàng và được niêm phong theo quy định.

    - Tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Văn H và Vũ Đình S. Kết quả: Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen, gắn sim số 0398319013 của Nguyễn Văn H, phát hiện 02 (hai) cuộc gọi đi đến số điện thoại 0345.355.xxx của Ngô Văn P, cụ thể: Vào lúc 14 giờ 51 phút và 16 giờ 35 phút ngày 19/5/2024. Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen, gắn sim số 0899883642 của Vũ Đình S phát hiện tin nhắn đến và đi với Nguyễn Văn H vào ngày 19/5/2024.

    - Ngày 22/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Thị T1 ở số nhà E, tổ dân phố D M, phường T, thị xã S, Hà Nội, thu giữ:

    • + 01 (một) túi ni-lông màu đen mở ra bên trong có túi nhựa nhiều màu mở tiếp ra bên trong có 01 túi ni-lông màu trắng có mép dính màu xanh bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng bột (niêm phong ký hiệu K1) và 01 (một) túi ni-lông màu trắng có mép dính màu xanh bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng cục (niêm phong ký hiệu K2), thu giữ tại lan can lối đi lên tầng 2.
    • + 39 (ba mươi chín) cóng thủy tinh màu trắng, thu giữ tại ngăn kéo kệ tivi.

    + Tại Bản kết luận giám định số 2050/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng bột của phong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,007g (không phẩy không không bảy gam), loại: Heroine; Chất rắn màu trắng dạng cục của phong bì niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,300g (không phẩy ba không không gam), loại: Heroine.

    + Tại Bản kết luận giám định số 2434/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 02 (hai) túi ni-lông gửi giám định đều có tế bào người, do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu gen.

    Quá trình điều tra, Vũ Thị T1 khai không quen biết S cũng như chưa từng bán ma túy cho S. Số ma túy thu tại chỗ ở của T1, T1 không biết là của ai, có thể là của chồng T1 là ông Ngô Ngọc S1, đã chết năm 2023.

    Qua xác minh, tại ngôi nhà số E, tổ dân phố D, phường T, thị xã S, ngoài Vũ Thị T1 còn có Công Thị Huyền T2 (cháu gái của T1), Ngô Thị T3 (con gái của T1) cùng sinh sống. T2 và T3 không biết số ma túy thu giữ là của ai.

    Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Vũ Đình S đối chất với Vũ Thị T1 và Lê Viết C ( S khai trước đó C đã dẫn S đi mua ma túy của T1 01 lần về để sử dụng, nên lần nay S đến nhà T1 để mua ma túy) nhưng T1 không thừa nhận hành vi bán ma túy cho S và C cũng không thừa nhận việc đi cùng S đến nhà T1 mua ma túy.

    Xét thấy, đối với số ma túy và cóng thu giữ trong quá trình khám xét tại số nhà E tổ dân phố D M, phường T, thị xã S, Hà Nội chưa xác định được là của ai và không liên quan đến vụ án này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tách hành vi, tài liệu, vật chứng có liên quan để xử lý trong vụ án khác.

Bản cáo trạng số 74/CT- VKS- TS, ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, truy tố các bị cáo phạm tội như sau:

  • + Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS;
  • + Vũ Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận việc phạm tội của mình và khẳng định bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Bị cáo Nguyễn Văn H khẳng định số tiền 3.040.000đ (ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) bị Công an thu giữ trong đó có 500.000đ là số tiền thu lợi từ việc bán ma túy cho P, số tiền còn lại là của H do đi làm mà có để chi trả tiền viện phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; Vũ Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và xử phạt các bị cáo như sau:
  • + Đối với các bị cáo Nguyễn Văn H:

Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 8 ( tám ) năm đến 8 ( tám) năm 6 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

  • + Đối với Vũ Đình S: Đề nghị áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự .

Đề nghị xử phạt Vũ Đình S từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo;

- Về vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • + Đề nghị tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định liên quan đến hành vi phạm tội của H và S ; 01 bơm kim tiêm.
  • + Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà 01 điện thoại của H. Trả lại cho S 01 điện thoại di động.
  • + Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000đ của Nguyễn Văn H là tiền thu lời bất chính do H bán ma túy cho P. Trả lại cho H số tiền 2.440.000đ.
  • - Về án phí đề nghị: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án, các bị cáo đều nhận thức thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cùng xin Hội đồng xét xử sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

  1. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Những chứng cứ xác định có tội của các bị cáo:

    Khoảng 13 giờ, ngày 17/5/2024, Nguyễn Văn H cùng Vũ Đình S đi xe khách ra bến xe S, Hà Nội mua ma túy của một người phụ nữ với số tiền là 04 triệu đồng; H là người có số tiền 4.000.000đ và đưa cho S là người trực tiếp mua ma túy và được hưởng lợi từ việc H cho Sử ma túy để sử dụng, S không biết mục đích của H về việc bán ma túy. Sau khi mua được ma túy, S đưa số ma túy này cho Nguyễn Văn H. H đã bán ma túy cho Ngô Văn P 02 lần. Cụ thể:

    • - Lần thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ ngày 19/5/2024, tại bệnh viện đa khoa huyện T, ở phố L, thị trấn T, huyện T, Nguyễn Văn H bán 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy cho Ngô Văn P với giá 100.000đ để P sử dụng.
    • - Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 20/5/2024, tại bệnh viện đa khoa huyện T, ở phố L, thị trấn T, huyện T, H tiếp tục bán 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (loại giấy của bao thuốc lá T6) bên trong chứa ma túy cho P với giá 500.000đ. P mang số ma túy mua được ra sân vận động huyện T sử dụng hết thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

    Tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng 226 khoa Nội 1 bệnh viện đa khoa huyện T là phòng H nằm điều trị bệnh, thu giữ: 0,717g ma túy, loại: Heroine Huấn với mục đích vừa sử dụng vừa bán kiếm lời ( H không phân chia cụ lượng thể ma túy để sử dụng và lượng ma túy để bán kiếm lời)

    - Do Vũ Đình S là người đi mua ma túy cho Nguyễn Văn H, không biết H mua về để bán kiếm lời, nên bị cáo S phạm tội tàng trữ 0,717g ma túy loại heroin.

    Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.

    Hành vi của bị cáo Vũ Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

  3. Xét tính chất vụ án: Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về chất gây nghiện, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Hành vi của các bị cáo không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là hiểm họa lớn cho xã hội, làm hủy hoại giá trị đạo đức, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Vì vậy Nguyễn Văn H và Vũ Đình S đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra Vũ Đình S đầu thú, Nguyễn Văn H đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự theo quyết định về việc quân nhân xuất ngũ số 23 ngày 06/01/2020, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

  4. Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
  5. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có việc làm ổn định, không có tài sản gì, nghiện ma túy. Vì vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng HS.
    • + Tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và 01 bơm kim tiêm.
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, số máy: TA – 1034, IMEL 1: 356967092104215; IMEL 2: 356967097104210, kèm theo 01 sim có ghi 8984048000921492695 của Nguyễn Văn H do H sử dụng điện thoại để bán ma túy, nên đây là công cụ phương tiện phạm tội.
    • + Tịch thu của Nguyễn Văn H số tiền số tiền 600.000đ ( sáu trăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính do H bán ma túy cho P.
    • + Trả lại cho H số tiền 2.440.000đ ( hai triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
    • + Trả lại cho Vũ Đình S 01 diện thoại di động 130, số máy TA – 1017.Có IMEL 1: 355814090335634, IMEL 2: 355814095335639 kèm theo 01 sim có ghi: 8401240112165590 IDE.
  7. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Đối với Vũ Thị T1 là người mà Vũ Đình S khai nhận đã bán ma túy cho S. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo S, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định T1 là người bán ma túy cho S, nên không có căn cứ xử lý T1 trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ:
    • + Điểm b, khoản 2, Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
    • + Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Đình S.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Vũ Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  3. Xử phạt:
    • + Bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ( ngày 20/5/2024).
    • + Bị cáo Vũ Đình S 02 (hai) năm tù 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ( ngày 20/5/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
    • + Tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và 01 bơm kim tiêm.
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, số máy: TA – 1034, IMEL 1: 356967092104215; IMEL 2: 356967097104210, kèm theo 01 sim có ghi 8984048000921492695 của Nguyễn Văn H do là công cụ phương tiện phạm tội.
    • + Tịch thu của Nguyễn Văn H số tiền số tiền 600.000đ ( sáu trăm nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính do H bán ma túy cho P.
    • + Trả lại cho H số tiền 2.440.000đ ( hai triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn).
    • + Trả lại cho Vũ Đình S 01 diện thoại di động 130, số máy TA – 1017.Có IMEL 1: 355814090335634, IMEL 2: 355814095335639 kèm theo 01 sim có ghi: 8401240112165590 IDE.

    Tất cả các tang vật trên hiện đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Triệu Sơn theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/10/2024. Riêng số tiền 3.040.000 hiện đã được chuyển đến số tài khoản 3949.0.9062237 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Triệu Sơn theo giấy ủy nhiệm chi ngày 08/10/2024.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135;136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH 14 ngày 30/6/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H và Vũ Đình S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333; 336; 337 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Hữu Thủy Nguyễn Bá L1

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị T4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Triệu Sơn;
  • - Công an huyện Triệu Sơn;
  • - THA huyện Triệu Sơn
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 83/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Huấn cùng đồng phạm, phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger