|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HS-ST
Ngày: 22 – 11 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành, ông Bùi Văn Hồng
Thư ký phiên toà: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nữ Giang Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Tiến Đ3, tên gọi khác: không; sinh ngày 29 tháng 01 năm 1988 tại xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tham gia Đảng, đoàn thể: không; con ông: Phạm Hồng T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992; con: có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lắc xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự phúc thẩm số 254/2011/HSPT ngày 09/9/2011, ngày 14/01/2012 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích); bị Ủy ban Nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 3 tháng theo Quyết định số 01/QĐ-UBND-GDTX ngày 11/7/2021 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 11/10/2021 chấp hành xong (đã được xóa tiền sự); Biện pháp ngăn chặn: bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình G – Luật sư của công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; địa chỉ: B đường V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Võ Văn T2, sinh năm: 1984; địa chỉ: tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nguyễn Quốc P, sinh năm: 1988; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Lê Hoài N, sinh năm: 1994; địa chỉ: thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm: 1992; địa chỉ: thôn T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Bùi Hoàng P1, sinh năm: 1990; địa chỉ: thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1992 (vợ của bị cáo Phạm Tiến Đ3); địa chỉ: thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt tại phiên tòa).
- Bà Phan Thị N1, sinh năm: 1957; địa chỉ: thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến:
- Anh Trần Tiến L1, sinh năm: 1983; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Ông Nguyễn Thành T3, sinh năm: 1964; địa chỉ: thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Phạm Hải T4, sinh năm: 1988; địa chỉ: xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 6/2023, thông qua mối quan hệ bạn bè, Phạm Tiến Đ3 quen biết một người đàn ông tên H trú tại tỉnh Sơn La (không rõ nhân thân, địa chỉ) trong lần đến nhà Phan Trung Đ1 (sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh) là bạn của Đ3 để chơi. Quá trình nói chuyện, H nói với Phạm Tiến Đ3 nếu có nhu cầu mua ma túy thì liên hệ với H thì Đ3 đồng ý. Vào tháng 4/2024, H gọi điện cho Phạm Tiến Đ3 thông báo chuẩn bị về Hà Tĩnh nếu có nhu cầu mua ma túy loại gì báo cho H. Phạm Tiến Đ3 đặt vấn đề mua của H 02 gói hồng phiến và xin H một ít ma túy đá, H đồng ý thống nhất giá 02 gói hồng phiến là 11.000.000 đồng, khi nào H về Hà Tĩnh thì sẽ chủ động liên hệ với Phạm Tiến Đ3. Khoảng 10 ngày sau, H gọi điện cho Phạm Tiến Đ3 hẹn ra khu vực đê L (thuộc địa phận xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) để giao ma túy. Ngay sau đó, Phạm Tiến Đ3 đi xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 38D1-108.35 (đăng ký xe đứng tên Lê Thị T5, vợ của Đ3) đến khu vực đê cách nhà Đ3 một đoạn thì thấy H đang ngồi trên xe mô tô chờ sẵn. Tại đây, H đưa cho Phạm Tiến Đ3 một túi nilon màu đen bên trong chứa ma túy còn Đ3 đưa cho H số tiền 11.000.000 đồng trả tiền mua ma túy. Sau khi giao dịch xong, H đi đâu không rõ, Phạm Tiến Đ3 đưa túi nilon màu đen chứa ma túy về phòng kho trước nhà của mình (tại thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) mở kiểm tra và thấy bên trong có 02 gói nilon màu xanh đựng các viên nén màu xanh, màu hồng và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Phạm Tiến Đ3 đã chia các viên ma túy H1 phiến vào các túi nilon màu xanh gồm các loại: gói 5 viên, gói 6 viên, gói 10 viên, gói 12 viên nhằm mục đích bán lại cho người khác với giá 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng để kiếm lời.
Quá trình điều tra xác định được trong các ngày 08, 15, 16/5/2024, Phạm Tiến Đ3 đã 08 lần bán ma túy cho Lê Hoài N, Nguyễn Tiến Đ, Bùi Hoàng P1, Võ Văn T2, Nguyễn Quốc P tại nhà của Phạm Tiến Đ3 ở thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể như sau:
- - Hành vi bán ma túy cho Lê Hoài N (sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh): Khoảng 18 giờ, ngày 08/5/2024, Lê Hoài N, nhắn tin qua tài khoản mạng xã hội Facebook cho Phạm Tiến Đ3 hỏi “có ở nhà không, để cho em một triệu”. Đ3 hiểu ý N là muốn mua 1.000.000 đồng tiền ma túy. Phạm Tiến Đ3 đồng ý, nói N đến nhà mình và nói “chuyển tiền vào tài khoản Nguyễn Thị T1, số 0348.188.022 ngân hàng V1”. Sau đó, Lê Hoài N chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào số tài khoản Phạm Tiến Đ3 vừa gửi. Thấy trong tài khoản đã có tiền, Phạm Tiến Đ3 đi vào nhà kho lấy túi nilon màu xanh bỏ vào 10 viên hồng phiến đem ra cất giấu tại cột điện trước nhà, rồi nhắn tin báo vị trí đã giấu ma túy cho Lê Hoài N. Sau đó N đến lấy ma túy như thế nào Đ3 không biết.
-
- Hành vi bán ma túy cho Nguyễn Tiến Đ (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh): Phạm Tiến Đ3 đã 02 lần bán ma túy cho Nguyến Tiến Đ2, cụ thể:
- + Lần thứ nhất: Khoảng 6 giờ, ngày 15/5/2024, Nguyễn Tiến Đ, gọi điện thoại cho Phạm Tiến Đ3 hỏi “Đang ở mô đó. Để cho mấy trăm”, (ý Đ là bán cho Đ mấy trăm nghìn tiền ma túy). Phạm Tiến Đ3 trả lời “đang ở nhà”, một lúc sau Nguyễn Tiến Đ chuyển số tiền 700.000 đồng vào tài khoản số 03418188022 mang tên Nguyễn Thị T1 tại ngân hàng V1, ngay sau đó Nguyễn Tiến Đ đến nhà Phạm Tiến Đ3 để lấy ma túy, thấy Đ đến Phạm Tiến Đ3 đi vào nhà kho lấy 08 viên ma túy hồng phiến ra cho vào một túi nilon màu xanh đưa ra giao cho Đ, Đ mang về nhà sử dụng hết.
- + Lần thứ hai: Vào khoảng 17 giờ 28 phút ngày 16/5/2024, Nguyễn Tiến Đ gọi điện cho Phạm Tiến Đ3 hỏi mua ma túy, Đ nói “Để giúp năm trăm”. Đăng hiểu ý Đ muốn mua 500.000 đồng tiền ma túy hồng phiến nên nói “tí nữa lên mà lấy”. Tiếp đó Nguyễn Tiến Đ nói “thêm cho ít đá” ý Đ là ngoài ma túy hồng phiến thì thêm ít ma túy đá. Khoảng 30 phút sau Nguyễn Tiến Đ đi xe mô tô đến nhà Phạm Tiến Đ3 và đưa cho Đ3 số tiền 500.000 đồng. Phạm Tiến Đ3 nhận tiền và đi vào nhà kho lấy ra 01 túi nilon bên trong có 04 viên ma túy hồng phiến và một ít ma túy đá được bỏ trong túi nilon màu xanh đưa ra cho Đ, Đ đưa số ma túy trên về nhà sử dụng hết.
-
- Hành vi bán ma túy cho Bùi Hoàng P1 (sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh): Phạm Tiến Đ3 đã 03 lần bán ma túy cho Bùi Hoàng P1 về để sử dụng, cụ thể:
- + Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 15/5/2024, khi Phạm Tiến Đ3 đang ở nhà thì Bùi Hoàng P1, gọi điện hỏi “có ở nhà không để đến cầm chiếc điện thoại”. Phạm Tiến Đ3 trả lời “đang ở nhà”, một lúc sau P1 đi xe máy đến. Đ3 ra gặp P1 ở thềm cửa nhà chính, tại đây, P1 đưa cho Phạm Tiến Đ3 một điện thoại SamSung Galaxy A05 và nói Đ3 cầm cho P1 2.000.000 đồng, Đ3 đồng ý. Bùi Hoàng P1 nói bán cho P1 500.000 đồng ma túy đồng thời nhờ Phạm Tiến Đ3 chuyển tiền (P1 cắm điện thoại cho Đ3) vào thẻ game cho P1 là 500.000 đồng. Số tiền còn lại là 1.000.000 đồng P1 nhờ Đ3 trả nợ cho Lê Hoài N (trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) là người mà P1 đang nợ tiền. Phạm Tiến Đ3 đồng ý và đi vào nhà kho lấy hộp kẹo cao su màu xanh (Đ3 dùng để đựng ma túy) lấy ra một túi nilon màu xanh bên trong có 06 viên hồng phiến đưa cho P1. Sau khi mua được ma túy Bùi Hoàng P1 đi về nhà, kiểm tra tài khoản Game của mình thấy có 450.000 đồng, P1 biết đây là tiền Đ3 đã chuyển cho P1.
- + Lần thứ hai: Khoảng 6 giờ ngày 16/5/2024, Bùi Hoàng P1 sử dụng tài khoản Messenger “Hoàng P1” gọi đến tài khoản M “Phạm Đăng " của Phạm Tiến Đ3 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy, Đ3 đồng ý và nói chờ ở bờ kênh gần nhà Đăng. Ngay sau đó, Bùi Hoàng P1 đi đến bờ kênh gần nhà Đ3 chờ một lúc thấy Đ3 đến. P1 đưa cho Đ3 số tiền 500.000 đồng, Đ3 nhận tiền và đưa cho P1 06 viên hồng phiến để trong túi ni long màu xanh.
- + Lần thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 16/5/2024, Bùi Hoàng P1 sử dụng tài khoản Mesenger “Hoàng P1” gọi cho Phạm Tiến Đ3 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy, Đ3 đồng ý và nói P1 đến nhà. Khoảng 10 phút sau, Bùi Hoàng P1 đi đến nhà Phạm Tiến Đ3 và đứng chờ ngoài cổng, thấy P1 đến Đ3 ra gặp. Bùi Hoàng P1 xin số tài khoản ngân hàng của Đ3 để chuyển tiền mua ma túy. Đăng cho P1 tài khoản số 0348188022 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị Tuyết . Sau đó Bùi Hoàng P1 chuyển số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản trên và được Đ3 đưa cho một gói nilon màu xanh bên trong có 06 viên hồng phiến.
- - Hành vi bán ma túy cho Võ Văn T2 (sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh): Khoảng 14 giờ, ngày 15/05/2024, Võ Văn T2 gọi điện cho Phạm Tiến Đ3 hỏi “em có ở nhà không để cho anh năm trăm” Đ3 hiểu ý T2 là có ở nhà không bán cho T2 500.000 đồng ma túy; Đ3 trả lời “bây giờ em không ở nhà, có chi anh chiều xuống” ý nói T2 chiều xuống nhà sẽ bán ma túy cho, T2 hiểu ý nên nói “vậy chiều anh xuống”. Khoảng 16 giờ cùng ngày Võ Văn T2 đi đến nhà Phạm Tiến Đ3, khi gặp Đ3, T2 đưa cho Đ3 500.000 đồng, Đ3 đưa cho T2 01 túi nilon màu xanh bên trong có 06 viên ma túy hồng phiến, rồi T2 đi về nhà. Sau đó, Võ Văn T2 lấy 01 chai nhựa, bật lửa và đi bộ đến khu vực nghĩa trang T7, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng ma túy. Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 15/5/2024, Khi Võ Văn T2 vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng chức năng phát hiện kiểm tra, thu giữ các dụng cụ sử dụng ma túy nêu trên và lập biên bản sự việc.
- - Hành vi bán ma túy cho Nguyễn Quốc P (sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh): Vào khoảng 17 giờ ngày 15/05/2024, Nguyễn Quốc P gọi điện cho Phạm Tiến Đ3 hỏi mua ma túy. Lúc này Đ3 đang đi cắt tóc nên hẹn gặp P sau. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Quốc P tiếp tục gọi điện, Phạm Tiến Đ3 nói “đang ở nhà, xuống mà lấy”. Sau đó, P đi đến nhà Phạm Tiến Đ3, gặp và đưa cho Đ3 số tiền 500.000 đồng, Đ3 nhận tiền và đưa cho P 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 06 viên ma tuý hồng phiến. Nguyễn Quốc P cầm túi nilon đựng ma túy và bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau đó P lấy 01 chai nhựa trong suốt, dùng bật lửa để đốt giữa thân chai, dùng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cuốn lại và nhét vào giữa thân chai làm dụng cụ để sử dụng ma tuý. Sau khi làm xong dụng cụ sử dụng ma túy, Nguyễn Quốc P đi bộ từ nhà ra khu vực nghĩa trang B gần nhà (thuộc tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) sử dụng hết 06 viên ma túy. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày khi Nguyễn Quốc P đang ngồi chơi thì lực lượng chức năng kiểm tra, thu giữ các dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy và lập biên bản sự việc.
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 16/5/2024, lực lượng chức năng đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Tiến Đ3 tại thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thu giữ trên người của Phạm Tiến Đ3: 01 túi nilon màu hồng, bên trong có chứa 80 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A05, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max; số tiền 1.000.000 đồng, Phạm Tiến Đ3 khai đây là tiền bán ma túy cho Võ Văn T2 và Nguyễn Quốc P vào ngày 15/5/2024. Thu giữ trên giường ngủ trong khu vực nhà kho phía trước nhà Phạm Tiến Đ3 07 túi nilon màu xanh, bên trong mỗi túi chứa 12 viên nén màu hồng; 10 túi nilon màu xanh, bên trong mỗi túi chứa 06 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 chiếc bật lửa, màu đỏ; 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 chiếc thìa nhựa màu xanh; 01 chai nhựa màu trắng, giữa thân chai có gắn 01 ống hút bằng tre, thu giữ bên trong tủ gỗ thuộc khu vực nhà kho phía trước nhà Phạm Tiến Đ3 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa 117 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 65 túi nilon màu xanh.
- Tại bản kết luận giám định số 719/GĐMT-PC09 ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H Kết luận: 02 viên nén hình tròn, màu xanh (ký hiệu M1) không phải là ma túy; 346 viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu M1, M2, M3, M4, M7) là chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 33,8078 gam. Các chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5, M6, M8) gửi đi giám định là ma túy loại Methametamine, tổng khối lượng 5,9015 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Ngày 05/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H có Công văn số 644/CSĐT gửi Phòng K Công an tỉnh H về xác định khối lượng trung bình 01 viên nén màu hồng trong các mẫu M1, M2, M3, M4, M7 đã trưng cầu giám định. Ngày 06/9/2024, Phòng K Công an tỉnh H có Công văn số 338/PC09 xác định: Căn cứ Kết luận giám định số 719/GĐMT-PC09 ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, qua tổng hợp biên bản cân khối lượng và Kết luận giám định thì xác định có tổng cộng khối lượng các mẫu và khối lượng trung bình 01 viên nén màu hồng của các mẫu M1, M2, M3, M4, M7 như sau:
- + Mẫu M1 có 80 viên nén màu hồng gửi giám là ma túy, loại Methamphetamine và có tổng khối lượng là: 7,8187 gam. Từ kết quả đó, qua các phương pháp tính toán Phòng K Công an tỉnh xác định được khối lượng trung bình của 01 viên nén màu hồng có khối lượng là: 0,0977 gam;
- + Mẫu M2 có 84 viên nén màu hồng gửi giám là ma túy, loại Methamphetamine và có tổng khối lượng là: 8,1828 gam. Từ kết quả đó, qua các phương pháp tính toán Phòng K Công an tỉnh xác định được khối lượng trung bình của 01 viên nén màu hồng có khối lượng là: 0,0974 gam;
- + Mẫu M3 có 60 viên nén màu hồng gửi giám là ma túy, loại Methamphetamine và có tổng khối lượng là: 5,8641 gam. Từ kết quả đó, qua các phương pháp tính toán Phòng K Công an tỉnh xác định được khối lượng trung bình của 01 viên nén màu hồng có khối lượng là: 0,0977 gam;
- + Mẫu M4 có 05 viên nén màu hồng gửi giám là ma túy, loại Methamphetamine và có tổng khối lượng là: 0,5240 gam. Từ kết quả đó, qua các phương pháp tính toán Phòng K Công an tỉnh xác định được khối lượng trung bình của 01 viên nén màu hồng có khối lượng là: 0,1048 gam;
- + Mẫu M7 có 117 viên nén màu hồng gửi giám là ma túy, loại Methamphetamine và có tổng khối lượng là: 11,4182 gam. Từ kết quả đó, qua các phương pháp tính toán Phòng K Công an tỉnh xác định được khối lượng trung bình của 01 viên nén màu hồng có khối lượng là: 0,0976 gam.
Quá trình điều tra vụ án, bị can Phạm Tiến Đ3 khai nhận ngoài 346 viên hồng phiến mà Cơ quan điều tra đã thu giữ trước đó trong 02 gói hồng phiến mua của người đàn ông tên H, Phạm Tiến Đ3 còn bán cho Lê Hoài N, Nguyễn Tiến Đ, Bùi Hoàng P1, Võ Văn T2, Nguyễn Quốc P tổng cộng 52 viên Hồng phiến. Do đó, Cơ quan điều tra xác định khối lượng ma túy của 398 viên hồng phiến như sau: 33,8078 gam (346 viên) + (52 viên x 0,0974 gam (khối lượng trung bình của 01 viên hồng phiến)) = 38,8726 gam.
Như vậy, Phạm Tiến Đ3 đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng là: 39,7093 gam (khối lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Tiến Đ3) + 5,0648 gam (khối lượng của 52 viên hồng phiến bán cho người khác) = 44,7741 gam Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Phạm Tiến Đ3:
- - 01 túi nilon màu hồng, kích thước (6x8)cm, bên trong chứa 80 viên nén màu hồng (ký hiệu M1) và 02 viên nén màu xanh (ký hiệu M1);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu đen bên trong chứa sim số 0377370007;
- - Số tiền 1.000.000 đồng;
- - Số tiền 2.900.000 đồng (Tiền do Nguyễn Thị Tuyết V của Phạm Tiến Đ3 giao nộp);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A05 màu xanh, bên trong chứa sim số 0393938820 (chiếc điện thoại Bùi Hoàng P1 cắm cho Phạm Tiến Đ3);
- - 07 túi nilon màu xanh, kích thước (02x03) cm, bên trong mỗi túi nilon màu xanh chứa 12 viên nén màu hồng, (tổng 84 viên) ký hiệu M2;
- - 10 túi nilon màu xanh, kích thước (02x03) cm, bên trong mỗi túi nilon màu xanh chứa 06 viên nén màu hồng, (tổng 60 viên) ký hiệu M3;
- - 01 túi nilon màu trắng, kích thước (05x07) cm, bên trong túi nilon chứa 05 viên nén màu hồng (ký hiệu M4);
- - 01 túi nilong màu trắng, kích thước (05x07) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M5);
- - 01 túi nilong màu xanh, kích thước (02x03) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M6);
- - 01 túi nilon màu xanh, kích thước (06x08) cm, bên trong chứa 117 viên nén màu hồng (ký hiệu M7);
- - 01 túi nilon màu trắng, kích thước (03x06) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M8);
- - 01 chiếc bật lửa màu đỏ; 01 chai nhựa trong suốt, giữa thân chai có gắn 01 ống hút bằng tre; 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 chiếc thìa nhựa màu xanh; 67 túi nilon màu xanh.
Thu giữ của Nguyễn Quốc P:
- - 01 chai nhựa trong suốt, 01 bật lửa màu đỏ, 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền 2.000 đồng; 01 túi nilon màu xanh.
Thu giữ của Võ Văn T2
- - 01 chai nhựa trong suốt, 01 bật lửa màu đỏ, 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền 1.000 đồng; 01 túi nilon màu xanh.
Số vật chứng trên được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKS-P1 ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử Phạm Tiến Đ3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng:
- Điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Tiến Đ3 từ 17 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt tiền bổ sung Phạm Tiến Đ3 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng: Các điểm a, b khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bà Phan Thị N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A05 màu xanh, bên trong chứa phôi sim số 0393938820.
- - Tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu đen bên trong chứa phôi sim số 0377370007 thu giữ của Phạm Tiến Đ3.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Phạm Tiến Đ3, số tiền 2.900.000 đồng do chị Nguyễn Thị T1 (vợ của Phạm Tiến Đ3) giao nộp, 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng thu giữ của Võ Văn T2, 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng thu giữ của Nguyễn Quốc P, 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng thu giữ của Phạm Tiến Đ3.
- - Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy và các túi ni lông dùng để đựng ma túy thu giữ của Phạm Tiến Đ3; các túi ni lông dùng để đựng ma túy và các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Phạm Tiến Đ3, Võ Văn T2, Nguyễn Quốc P.
- Truy thu tại bị cáo Phạm Tiến Đ3 số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính.
- Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo buộc bị cáo Phạm Tiến Đ3 phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Tiến Đ3 tranh luận thừa nhận toàn bộ hành vi mà mình thực hiện đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã kết luận, thừa nhận bản thân phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xin được xem xét giảm nhẹ vì bản thân đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng.
Ông Nguyễn Đình G bào chữa cho bị cáo Phạm Tiến Đ3 tranh luận đồng tình với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát và lời bào chữa của bị cáo Phạm Tiến Đ3, đề nghị Hội đồng xem xét thêm hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn, con nhỏ để áp dụng hình phạt đối với bị cáo ở mức thấp nhất.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi sai phạm, rất ăn năn, hối lỗi và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các quyết định và hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại.
[2]. Về tố tụng: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đã được Toà án triệu tập phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên xét thấy những người này đã được lấy lời khai đầy đủ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, 296 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng này.
[3]. Về tội phạm và khung hình phạt: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi của mình đúng như kết luận của bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa nên có đủ căn cứ xác định: Trong các ngày 8, 15, 16/5/2024, Phạm Tiến Đ3 đã 08 lần bán 52 viên Hồng phiến, tức là ma túy Methamphetamie, tổng khối lượng 5,0648 gam cho Võ Văn T2, Nguyễn Quốc P, Lê Hoài N, Nguyễn Tiến Đ, Bùi Hoàng P1 với giá từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, thu lợi tổng cộng 4.700.000 đồng. Ngoài ra, Phạm Tiến Đ3 còn tàng trữ tại nhà riêng ở thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh 39,7093 gam Methamphetamie với mục đích để bán kiếm lời. Tổng số ma túy Phạm Tiến Đ3 đã bán cho các đối tượng và tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời là 44,7741 gam Methamphetamie. Hành vi của bị cáo Phạm Tiến Đ3 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về tội danh theo điểm, khoản điều luật nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về mức hình phạt: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, là mầm mống gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của nhiều người, làm suy kiệt kinh tế nhiều gia đình, gây mất ổn định trật tự xã hội nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân xấu, phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, do đó cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là thành khẩn khai báo, có bố đẻ là Phạm Hồng T tham gia dân công hỏa tuyến được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, có bà ngoại là Bùi Thị L2 được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tài sản do phạm tội mà có. Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như trên, Hội đồng xét xử thấy xử phạt bị cáo khoảng 16 năm tù, phạt tiền bổ sung bị cáo khoảng 20.000.000 đồng là phù hợp.
[5]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xét thấy:
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A05 màu xanh, bên trong chứa phôi sim số 0393938820 là tài sản cá nhân của bà Phan Thị N1, do Bùi Hoàng P1 mượn của bà Phan Thị N1 sử dụng rồi cầm cố cho Phạm Tiến Đ3 lấy tiền mua ma túy mà bà Phan Thị N1 không biết, cho nên cần trả lại cho bà Phan Thị N1.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu đen bên trong chứa sim số 0377370007 của Phạm Tiến Đ3 là phương tiện được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đang còn giá trị nên tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước.
- Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Tiến Đ3 và số tiền 2.900.000 đồng do chị Nguyễn Thị T1 (vợ bị cáo Phạm Tiến Đ3) giao nộp là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là tiền bị cáo Phạm Tiến Đ3, Nguyễn Quốc P, Võ Văn T2 sử dụng cuộn tròn lại để làm ống hút ma túy nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- Số ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Tiến Đ3 là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các viên nén màu xanh không phải là ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Tiến Đ3 không có giá trị; các túi nilon dùng để chứa đựng ma túy, các phương tiện công cụ dùng để sử dụng ma túy (bật lửa, chai nhựa, thìa nhựa, ống hút bằng tre) thu giữ của bị cáo Phạm Tiến Đ3, anh Nguyễn Quốc P, anh Võ Văn T2 không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
- Bị cáo Phạm Tiến Đ3 bán ma túy thu số tiền tổng cộng là 4.700.000 đồng. Nay mới giao nộp tổng cộng 3.900.000 đồng, do đó truy thu tại bị cáo Phạm Tiến Đ3 số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính còn lại.
[6]. Về hành vi của những người có liên quan trong vụ án và một số vấn đề khác:
- - Đối với người đàn ông tên H là người bán ma túy cho Phạm Tiến Đ3. Do thông tin Phạm Tiến Đ3 cung cấp không đầy đủ, nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Đo đó trường hợp làm rõ được nhân thân, lai lịch của người đàn ông tên H thì tiếp tục điều tra, xử lý trong một vụ án khác.
- - Đối với Phan Trung Đ1 (sinh năm: 1987, trú tại tổ dân phố Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh), Phạm Tiến Đ3 khai quen biết người đàn ông tên H tại nhà của Phan Trung Đ1. Cơ quan cảnh sát điều tra đã triệu tập làm rõ, Đ1 khai có việc Phạm Tiến Đ3 gặp H tại nhà của Đ1, tuy nhiên Đ1 không giới thiệu cho hai người gặp nhau, không trao đổi, bàn bạc gì về việc mua bán ma túy, Đ1 cũng không biết thông tin, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên H nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Phan Trung Đ1 là có căn cứ.
- - Đối với Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1992, trú tại thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, là vợ của bị cáo Phạm Tiến Đ3), quá trình điều tra xác định được Phạm Tiến Đ3 sử dụng tài khoản số 0348188022 tại ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Thị T1 để thực hiện giao dịch chuyển tiền mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, sau khi mở số tài khoản nêu trên, Nguyễn Thị T1 đã đưa cho Phạm Tiến Đ3 cùng sử dụng. Nguyễn Thị T1 không biết Đ3 sử dụng tài khoản trên để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Phạm Tiến Đ3 còn sử dụng chiếc xe mô tô hiệu Sirius biển kiểm soát 38D1-108.35 đăng ký mang tên Nguyễn Thị T1 để đi mua, bán ma túy nhưng Nguyễn Thị T1 không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Nguyễn Thị T1 là có căn cứ. Chiếc xe mô tô là tài sản riêng của Nguyễn Thị T1 trước khi lấy chồng nên Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe trên là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với Bùi Hoàng P1, Võ Văn T2, Lê Hoài N, Nguyễn Quốc P và Nguyễn Tiến Đ, là những người mua ma túy của Phạm Tiến Đ3 để sử dụng và đã sử dụng hết. Ngày 11/7/2024, Công an tỉnh H đã ra các Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 03, 04, 05, 06, 07 bằng hình thức phạt tiền và thông báo đến chính quyền địa phương, công an xã biết để theo dõi, quản lý.
[7]. Về án phí : Bị cáo Phạm Tiến Đ3 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- - Các điểm a, b khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo:
Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến Đ3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Tiến Đ3 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: 16/5/2024.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Phạm Tiến Đ3 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho bà Phan Thị N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A05 màu xanh, bên trong chứa phôi sim số 0393938820.
- - Tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu đen bên trong chứa phôi sim số 0377370007 thu giữ của Phạm Tiến Đ3.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Phạm Tiến Đ3, số tiền 2.900.000 đồng do chị Nguyễn Thị T1 (vợ của Phạm Tiến Đ3) giao nộp. Tổng cộng 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng).
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng (Một nghìn đồng) thu giữ của Võ Văn T2, 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (Hai nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Quốc P, 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng (Năm nghìn đồng) thu giữ của Phạm Tiến Đ3. Tổng cộng 8.000 đồng (Tám nghìn đồng).
- - Tịch thu, tiêu hủy 38,2494 gam viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamin (sau khi đã khấu trừ khối lượng lấy mẫu giám định) và 0,1135 gam viên nén màu xanh không phải là ma túy (sau khi đã khấu trừ khối lượng lấy mẫu giám định) cùng toàn bộ các vỏ bao gói ban đầu; 03 chai nhựa; 01 ống hút bằng tre; 03 bật lửa ga; 01 chiếc thìa nhựa; 67 túi ni lông màu xanh.
- Tình trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản có tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 03/2025 ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh; Ủy nhiệm chi số 307 ngày 15/10/2024 của Công an tỉnh H.
- Truy thu tại bị cáo Phạm Tiến Đ3 số tiền 800.000 đồng (T6 trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính.
Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tiến Đ3 phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Tiến Đ3, chị Nguyễn Thị T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Võ Văn T2, anh Nguyễn Quốc P, anh Lê Hoài N, anh Nguyễn Tiến Đ, anh Bùi Hoàng P1, bà Phan Thị N1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Ngọc Tùng |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tù có thời hạn
