|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Văn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Anh Dũng
- Ông Nguyễn Quốc Sửu
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hà Đăng Chương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại hội trường xét xử của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST, ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2023/QĐXXST- HS, ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nông Văn T, sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 01/10; con ông Nông Văn C và bà Hoàng Thị B (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị L, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
Nhân thân: Tại bản án số 23 ngày 1/7/2015, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt Nông Văn T 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí. Chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí tháng 8/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2020.
2. Lê Hồng T1, sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 05/12; con ông Lê Hồng T2 và bà Bùi Thị M; vợ là Nguyễn Thị N, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- + Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; Thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- + Anh Nguyễn Xuân C1, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1989 (vắng mặt);
- + Chị Phạm Thị Thùy L1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, Công an huyện T bắt quả tang Lê Hồng T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi tiến hành kiểm tra thu giữ vật chứng gồm:
Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải Lê Hồng T1 mặc khi bị bắt qua tang 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong có 03 (ba) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng, được niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT” .
Lê Hồng T1 tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 98H1-092.39.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Hồng T1, kết quả khám xét thu giữ: T3 tại sườn đệm bên phải sát tường theo hướng từ cửa vào 01 hộp kim loại màu xanh, trên mặt hộp có chữ “10xmg7000” bên trong có 15 (mười năm) gói giấy bạc, mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì dán kín.
Ngày 17/7/2024; Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nông Văn T tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, kết quả khám xét:
Thu giữ tại nóc gian tủ gỗ ngoài cùng bên phải kê tại phòng khách:
- - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong có một gói giấy bạc, mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy
- - 01 hộp kim loại màu xanh, bên trong có 01 gói giấy bạc, mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Túi nilon màu trắng và gói giấy bạc được niêm phong trong phong bì thư.
- - Số tiền 10.400.000 đồng, gồm 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 27 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 22 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 06 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.
- - Số tiền 37.000.000 đồng) gồm 25 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 117 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 08 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 06 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đựng trong một chiếc hộp nhựa màu trắng, nắp màu xanh. Toàn bộ số tiền trên được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “Tiền T”
Thu giữ tại chiếc áo rằn ri đặt trên yên xe mô tô Vision, biển kiểm soát 98C1-262.05 dựng ở trước cửa nhà tắm:
- - 01 (một) chiếc túi nilon màu xanh có rãnh khóa nhựa, bên trong chứa 04 gói giấy bạc có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong cả 04 gói đều có chất cục bột màu trắng; 01 gói nilon màu đen được quấn lại bằng băng dính, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong đựng chất cục bột màu trắng, tất cả nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX THẢO 2”.
Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Nông Văn T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen.
Tại kết luận giám định số 1620/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- - Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 03 (ba) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, được đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma tuý, có tổng khối lượng 0,157 gam, loại Heroine.
- - Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX TỚI” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 15 (mười lăm) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, được đựng trong 01 (một) hộp kim loại màu xanh, trên mặt hộp có chữ "10xmg7000" là ma túy, có tổng khối lượng 0,580 gam, loại Heroine.
- - Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX THẢO 1” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có khối lượng 0,232 gam, loại Heroine.
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,038 gam, loại Heroine.
- - Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX THẢO 2” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng là ma tuý, có tổng khối lượng 0,260 gam, loại Heroine.
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được gói trong 01 (một) gói ni lon màu đen, bên ngoài quấn băng dính là ma túy, có khối lượng 3,587 gam, loại Heroine.
Ngày 17/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với T và T1, kết quả: T và T1 đều dương tính với chất Heroine.
Quá trình điều tra Nông Văn T và Lê Hồng T1 khai nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Số ma túy bị cáo T cất giấu và bán cho T1 do bị cáo mua của một người tên T4 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn với giá 3.000.000 đồng. Sau đó bị cáo và mang số ma túy trên về nhà cất ở nóc tủ cạnh giường. Sáng ngày 16/7/2024, T đi đến Trung tâm Y tế huyện T để uống thuốc methadone thì gặp Lê Hồng T1, T1 có hỏi mua ma túy thì T nói ở nhà có đấy nếu lấy thì T để lại cho, T1 đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 16/7/2024, T1 sử dụng số điện thoại 0961.155.xxx gọi đến số điện thoại 0385.134.xxx của T hỏi mua 1.500.000đồng ma túy Heroine, T đồng ý và hẹn T1 ra khu vực nghĩa trang thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để giao ma túy. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-đen, biển kiểm soát 98H1-092.39 đi từ nhà đến khu vực nghĩa trang thôn Đ, xã Đ, huyện Y, còn T đi bộ đến điểm hẹn. Khoảng 21 giờ 30 phút, T1 đến nơi gặp T và đưa cho T 1.500.000đồng, Thảo cầm tiền và đưa lại cho T1 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 10 gói giấy bạc bên ngoài màu vàng đựng ma túy Heroine, sau đó T và T1 ra về. Khi về nhà T1 chia nhỏ thành 19 gói ma túy để sử dụng dần, T1 sử dụng một gói ma túy rồi đi ngủ. Sáng ngày 17/7/2024, T1 mang theo 03 gói ma túy để đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lê Hồng T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố.
Khi luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 06 năm đến 06 năm 02 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000đồng.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hồng T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326.
Truy thu bị cáo T số tiền 1.500.000đồng.
Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định trong các phong bì thư có ký hiệu “QT”, “KX TỚI”, “KX THẢO1”, “KX THẢO 2”; 01 chiếc hộp kim loại màu xanh.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại Oppo màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen.
Trả lại bị cáo Nông Văn T và chị Nguyễn Thị L số tiền 47.400.000VNĐ (bốn mươi bẩy triệu bốn trăm nghìn đồng). Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Những người này đều đã có lời khai, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người này.
[3] Xác định tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội, nguồn gốc số tang vật bị thu giữ, mục đích tàng trữ ma túy hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định:
Hành vi khách quan: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, tại đoạn đường thôn N, xã Q, huyện T; Lê Hồng T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,157 gam ma túy Heroine. Ngoài ra, Lê Hồng T1 còn có hành vi tàng trữ 0,580 gam Heroine tại nhà mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổng số ma túy mà bị cáo T1 tàng trữ là 0,737gam Heroine.
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 16/7/2024, tại cổng nghĩa trang thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nông Văn T, có hành vi bán trái phép 0,737gam Heroine với giá 1.500.000 đồng cho Lê Hồng T1. Ngoài ra bị cáo T còn tàng trữ 4,117 gam tại nhà mục đích để bán kiếm lời. Tổng số ma túy mà bị cáo mua bán trái phép là 4,854gam Heroine.
Mặt chủ quan: Bị cáo T1 mua, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bị cáo T mua ma túy, tàng trữ ma túy để bán cho người khác kiếm lời. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Chủ thể của tội phạm: Khi thực hiện hành vi các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm Hình sự.
Khách thể của tội phạm: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của Nông Văn T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Lê Hồng T1 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo Nông Văn T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Nên cả 02 bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt:
Bị cáo T có nhân thân xấu, trọng lượng ma túy mà bị cáo mua bán gần bằng mức quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ nghiêm trọng phạm của hành vi phạm tội. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm đề nghị đối với bị cáo T là phù hợp cần chấp nhận.
Bị cáo T1 có nhân thân tốt, trọng lượng ma túy chỉ ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp với trọng lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ và nhân thân của bị cáo. Cần áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo T1.
Bị cáo T phạm tội có mục đích vụ lợi, bị cáo có tài sản để đảm bảo thi hành án. Nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có tài sản để đảm bảo thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 02 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo T và bị cáo T1 là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; chiếc hộp kim loại màu xanh không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 47.400.000đồng thu giữ tại nhà bị cáo T không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo và vợ bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; số tiền 1.500.000đồng của bị cáo T bán ma túy mà có nhưng đã sử dụng hết nên cần truy thu số tiền này là phù hợp với điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về các vấn đề khác: Không xác định được người bán ma túy cho T và người cho T1 số điện thoại của T nên Cơ quan điều tra xem xét xử lý là phù hợp. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã chuyển tài liệu đến Công an huyện T để xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Văn T và Lê Hồng T1 vào ngày 16/7/2024 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- - Căn cứ: khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
Phạt Nông Văn T 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hồng T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Truy thu bị cáo Nông Văn T số tiền 1.500.000đồng.
Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định trong các phong bì thư có ký hiệu “QT”, “KX TỚI”, “KX THẢO1”, “KX THẢO 2”; 01 chiếc hộp kim loại màu xanh.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại Oppo màu xanh đã qua sử dụng, Imeil: 860466057650295; Imei2: 860466057650287, lắp sim số 0961.155.875 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, imei: 358141085510220, imei: 358141085510238, lắp một sim Viettel có dãy số: 8984048000933999832 và một sim Viettel có dãy số: 8984048000934411922, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo Nông Văn T và chị Nguyễn Thị L số tiền 47.400.000VNĐ (bốn mươi bẩy triệu bốn trăm nghìn đồng). Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Án phí, quyền kháng cáo:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
4. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thân Văn Hiếu |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Có tội
