|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HS-ST
Ngày: 21/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang và ông Phạm Việt Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024; Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa công khai tại trụ sở để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 11/11/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN C, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12. Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; con bà: Hoàng Thị T1, sinh năm 1968. Tiền sự: Không.
- Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án:
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 91/2009/HSST ngày 11/11/2009, Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt Nguyễn Văn C 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 21/11/2013, C chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự của bản án.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2019/HS-ST ngày 02/8/2019, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã xử phạt Nguyễn Văn C 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 04/8/2020, C chấp hành xong hình phạt tù của bản án.
- Tại bản án số 20/2022/HSST ngày 28/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã xử phạt Nguyễn Văn C 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/01/2024, C chấp hành xong hình phạt tù của bản án.
Bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 02/7/2024 đến nay.
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu F phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
* Người có quyền lợi liên quan:
- Anh Đặng Ngọc H, sinh năm 1982; địa chỉ: Số C đường L, khu đô thị V, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1966; anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1965 và anh Đỗ Văn M, sinh năm 1986; đều làm việc tại: Công ty TNHH S1 (Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương). Anh M, anh T2 ủy quyền cho anh D tham gia tố tụng.
(Anh H ủy quyền cho anh S tham gia tố tụng).
(Bị hại đề nghị xử vắng mặt và những người có quyền lợi liên quan đều đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 25/6/2024, Nguyễn Văn C điều khiển xe máy loại Wave anpha, biển số 34B2-770.82 đi trên Quốc lộ E, chiều đường H - Hà Nội mục đích tìm kiếm xe ô tô đang dừng đỗ ven đường không có người trông giữ để trộm cắp bình ắc quy của xe đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân; C đem theo 01 chiếc túi da bên trong đựng dụng cụ gồm cờ lê, mỏ lết, kìm, đèn pin để sử dụng trộm cắp bình ắc quy và 01 bình xịt hơi cay, nếu khi trộm cắp có người phát hiện thì sẽ sử dụng để chống trả (chiếc xe máy trên do C mượn của vợ chồng anh Phạm Phú V - sinh năm 1990 và chị Trần Thị N - sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng, biển số đăng ký của xe là 17B5-312.62 C đem tháo ra và lắp lại bằng biển số 34B2-770.82 do C nhặt được). Khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đi đến lối rẽ vào Công ty TNHH S1 nằm ở bên phải Quốc lộ E theo chiều đi, thuộc địa phận thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; C quan sát thấy chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 34C-186.30, kéo rơ moóc biển số 34R-019.80, là tài sản của anh Đặng Ngọc H do anh Nguyễn Văn S là lái xe thuê cho anh H gửi tại Công ty TNHH S1 (thuộc trách nhiệm trông giữ của ca trực bảo vệ Công ty gồm ông Phạm Văn T2, ông Nguyễn Văn D và anh Đỗ Văn M) đang đỗ ở lối đi, phía trong cổng ra vào Công ty, cách Quốc lộ E khoảng 20 mét, xung quanh không có người. C điều khiển xe máy đi vào dựng ở phía sau rơ moóc biển số 34R-019.80 rồi lấy ở trong túi da treo trên xe máy ra 03 chiếc cờ lê, 01 bình xịt hơi cay đút vào túi quần đang mặc và 01 kìm cộng lực cầm ở tay, đi đến vị trí lắp đặt bình ắc quy ở phía sau cabin xe ô tô đầu kéo biển số 34C-186.30. C thấy 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150Ah của xe ô tô được để trong chiếc hộp kim loại có khóa treo loại Việt Tiệp bảo vệ, bên ngoài khóa bọc túi nilon màu xanh và buộc lại bằng một đoạn dây điện dài 80cm. C dùng tay tháo sợi dây và túi nilon bọc ổ khoá ra và dùng kìm cộng lực định cắt phá khoá để trộm cắp 02 bình ắc quy trên thì bị ông T2, ông D và anh M phát hiện, yêu cầu C vào phòng bảo vệ của Công ty TNHH S1 để làm việc và gọi điện trình báo cơ quan Công an đến lập biên bản, quản lý của C 01 kìm cộng lực; 03 cờ lê loại 13, 14, 15; 01 bình xịt hơi cay; 01 túi da bên trong có 01 chiếc kìm dài 23,5cm, 01 chiếc kìm dài 19,5cm, 01 cờ lê loại 12-14, 01 đèn pin, 01 mỏ lết dài 15cm và 01 mỏ lết dài 21 cm. Ngoài ra, lực lượng công an còn quản lý 01 túi nilon màu xanh; 01 đoạn dây điện dài 80cm và chiếc xe máy loại Wave anpha, đeo biển số 34B2-770.82.
Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K ngày 27/6/2024 kết luận: 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150Ah trị giá 4.200.000 đồng.
Ngày 09/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại chiếc xe máy loại Wave anpha cho chị Trần Thị N. Chiếc biển số 34B2-770.82 là biển số đăng ký xe máy của chị Nguyễn Thị Y - sinh năm 1976, trú tại: khu P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương làm rơi mất, chị Y đã được cấp lại biển số mới. Đối với chiếc biển số 34B2-770.82; 01 túi nilon màu xanh; 01 đoạn dây điện dài 80cm; 01 kìm cộng lực; 03 cờ lê loại 13, 14, 15; 01 cờ lê loại 12-14; 01 bình xịt hơi cay; 01 túi da; 01 chiếc kìm dài 23,5cm, 01 chiếc kìm dài 19,5cm; 01 đèn pin; 01 mỏ lết dài 15cm và 01 mỏ lết dài 21 cm là vật chứng, hiện đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành.
Giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận hành vi phạm tội.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn C tàng trữ công cụ hỗ trợ là bình xịt hơi cay, ngày 09/9/2024 Công an huyện K đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC, phạt tiền 7.500.000 đồng.
Trong vụ án này, đối với anh Phạm Phú V và chị Trần Thị N, khi cho Nguyễn Văn C mượn xe máy, anh V và chị N không biết C sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 30/9/2024,Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
* Bị hại và những người có quyền lợi liên quan đề nghị xét xử vắng mặt; không yêu cầu bồi thường và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
* Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố, nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (Chưa đạt).
- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn C từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/7/2024.
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Trách nhiệm dân sự: Bị cáo khi đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện, không gây thiệt hại về tài sản, bị hại không có yêu cầu bồi thường; những người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy biển số 34B2-770.82; 01 túi nilon màu xanh; 01 đoạn dây điện dài 80cm; 01 kìm cộng lực; 03 cờ lê loại 13, 14, 15; 01 cờ lê loại 12-14; 01 bình xịt hơi cay; 01 túi da; 02 chiếc kìm; 01 đèn pin; 02 mỏ lết.
- Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện K; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra và lời khai của bị hại cũng như những người có quyền lợi liên quan. Những lời khai này cũng phù hợp khách quan với tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án cùng Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá-UBND huyện K.
Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 25/6/2024, tại thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Văn C đã thực hiện hành vi lén lút tháo sợi dây và túi nilon bọc khoá hộp kim loại, sau đó chuẩn bị dùng kìm cộng lực cắt phá khoá nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản là 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V-150Ah có tổng trị giá 4.200.000 đồng ở bên trong hộp kim loại lắp đặt phía sau cabin xe ô tô đầu kéo biển số 34C-186.30 do anh Nguyễn Văn S gửi tại Công ty TNHH S1 thì bị phát hiện, bắt giữ. Do bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản vì nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của bị cáo nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật hình sự
[3] Đánh giá vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có 03 tiền án đều về tội chiếm đoạt tài sản, đều bị kết án bằng hình phạt tù, tuy nhiên sau khi chấp hành xong bản án bị cáo không chịu tu dưỡng, lao động để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về chiếm đoạt tài sản; điều này thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt:
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn; giá trị tài sản phạm tội có định lượng cấu thành quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo bị khởi tố, truy tố xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự vì thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Phạm tội gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật hình sự nên được áp dụng quy định tại khoản 1, 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt.
[5] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo khi đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện, không gây thiệt hại về tài sản, bị hại không có yêu cầu bồi thường; những người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
[7] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 biển số 34B2-770.82; 01 túi nilon màu xanh; 01 đoạn dây điện dài 80cm; 01 kìm cộng lực; 03 cờ lê loại 13, 14, 15; 01 cờ lê loại 12-14; 01 bình xịt hơi cay; 01 túi da; 02 chiếc kìm; 01 đèn pin; 02 mỏ lết. Đối với chiếc biển số 34B2-770.82 là biển số đăng ký xe máy của chị Nguyễn Thị Y - sinh năm 1976, trú tại: khu P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương làm rơi mất, chị Y đã được cấp lại biển số mới; 01 bình xịt hơi cay xác định là công cụ hỗ trợ và đã bị Công an huyện K ra Quyết định xử phạt hành chính, là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vật chứng khác là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần cho tịch thu tiêu hủy tất cả các vật chứng nêu trên.
[8] Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/7/2024.
4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số 34B2-770.82; 01 túi nilon màu xanh; 01 đoạn dây điện dài 80cm; 01 kìm cộng lực; 03 cờ lê loại 13, 14, 15; 01 cờ lê loại 12-14; 01 bình xịt hơi cay; 01 túi da; 02 chiếc kìm; 01 đèn pin; 02 mỏ lết. (Số lượng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).
5. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi liên quan. Đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo bản án, những người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
* Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Nghĩa |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội trộm cắp tài sản
