Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Văn Đảm – Nghề nghiệp: PGĐ BQL Rừng phòng hộ huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Địa chỉ: Thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Ông Quách Hà Vính - Giáo viên về hưu
  4. Địa chỉ: Thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quách Văn T; Sinh năm: 1986; tại xã T, huyện T; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 06/12; dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Văn K (đã chết); Con bà: Bùi Thị N, sinh năm 1962; Gia đình có: 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ là: Ngô Thị T1, sinh năm 1985; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không Tiền sự: Ngày 30/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Chấp hành xong ngày 13/01/2024. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 14/7/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Những người tham gia tố tụng:

  • Người bào chữa cho bị cáo:
  • Ông Đường Xuân A – Trợ giúp viên pháp lý (có mặt)

    Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh T chi nhánh S

  • Bị hại:
  • Cháu Bùi Yến N1, sinh năm: 2008 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

  • Người đại diện hợp pháp của bị hại:
  • Chị Đinh Thị N2, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, Thanh Hóa. (có mặt)

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
  • Ông Phạm Thanh T2 – Trợ giúp viên pháp lý (có mặt)

    Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh T chi nhánh số 5

NỘI DUNG VỤ ÁN

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/7/2024, Quách Văn T đi xe máy từ nhà đến nhà bà Trần Thị N3, sinh năm 1958 trú tại thôn N, xã T, huyện T để hỏi mua xe máy cũ. Khi đi đến nhà bà N3, T không thấy bà N3 hay người lớn ở nhà, chỉ thấy cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 10/9/2012; cháu Nguyễn An N4, sinh ngày 04/9/2018; cháu Nguyễn Thanh N5, sinh ngày 03/12/2020 là các cháu nội của bà N3; cháu Bùi Minh Đ, sinh ngày 27/02/2019 và cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 12/12/2018 là hàng xóm của nhà bà N3 đang ngồi chơi ở sân. T có hỏi cháu M là bà N3 và bố mẹ đi đâu thì cháu M trả lời “bố cháu ra ngoài đi sửa cưa, chắc sắp về”, vì vậy T đi vào trong bộ bàn ghế đặt trên hè để hút thuốc lào. Một lúc sau, cháu Bùi Yến N1 buồn đi vệ sinh (đại tiện) nên đã đi một mình vào nhà vệ sinh của nhà bà N3 để đi vệ sinh, lúc này N1 đang mặc áo phông màu trắng, chân váy bò màu xanh và mặc quần lót màu hồng. N1 kéo quần lót xuống dưới chân và ngồi lên bệ bồn cầu đi vệ sinh. Khoảng 10 phút sau, cháu N1 có gọi cho cháu M đi vào để rửa đít nhưng cháu M đang mải chơi ở sân nên không vào. Thấy không có ai vào nên T có đi vào nhà vệ sinh để rửa đít cho cháu N1. Khi vào nhà vệ sinh, T không chốt cửa mà chỉ khép hờ cánh cửa và hỏi cháu N1 đi nặng hay đi nhẹ, đứng dậy để T rửa cho. Sau đó, cháu N1 đứng dậy khỏi bồn cầu và ngồi xổm xuống nền nhà vệ sinh, T dùng vòi nước để rửa đít cho cháu N1, tay phải cầm vòi nước, tay trái dùng để rửa đít cho cháu N1. Khi rửa vệ sinh xong, T nảy sinh ham muốn tình dục nên đã cất vòi nước, tay phải cởi khóa quần và lấy dương vật đang cương cứng của mình ra, xóc lên, xóc xuống, đồng thời khom người sang bên trái của cháu N1, dùng lòng bàn tay trái của mình tiếp xúc, xoa, sờ, trà sát vào bên ngoài âm hộ của cháu N1, khoảng 30 giây sau, do hết ham muốn tình dục nên T đã dừng lại, khóa quần lại, kéo quần lại cho cháu N1 và bế cháu N1 ra ngoài. Tại bàn uống nước, T bế cháu N1 vào lòng và cho cháu N1 mượn điện thoại để xem. Một lúc sau, bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã T, huyện T - là bà nội của cháu N1 đến đến cháu N1 về. Đến tối khi tắm cho cháu N1 thì cháu N1 kêu đau ở bộ phận sinh dục (âm hộ), bà T3 kiểm tra thì thấy âm hộ của cháu N1 bị tấy đỏ, xây xước, có hỏi cháu N1 thì cháu N1 nói do bị ông T xâm hại tình dục. Vì vậy, đến sáng ngày 05/7/2024, chị Đinh Thị N2 là mẹ đẻ của cháu N1 đã đưa cháu N1 tới cơ quan Công an để trình báo sự việc. Cùng ngày, Quách Văn T đã đến Công an huyện T đầu thú, khai báo về hành vi phạm tội.

Ngay sau khi tiếp nhận vụ việc trên, Cơ quan điều tra đã tiến hành ngay việc trưng cầu giám định về tình dục học đối với cháu Bùi Yến N1. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 5180/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của V Bộ C đối với cháu Bùi Yến N1 kết luận: Vết trượt lớp thượng bì tại môi lớn bên trái kích thước 1,4x(0,1-0,2)cm; các bộ phận khác không tổn thương.

Đồng thời, đã tiến hành trưng cầu giám định ADN thu giữ trên quần áo và bộ phận sinh dục của Quách Văn T. Tại Bản kết luận giám định số 2767/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu được ký hiệu M1 (áo thu giữ của Quách Văn T) gửi giám định có ADN của nhiều người, không tách được kiểu gen riêng biệt của từng người. Các mẫu M2 (quần dài thu giữ của Quách Văn T), M3 (quần đùi thu giữ của Quách Văn T), M4 (mẫu tế bào được thu tại bộ phận sinh dục của Quách Văn T) gửi giám định đều có ADN của một người nam giới. AND của người nam giới này trùng khớp với AND của Quách Văn T.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, thu giữ được 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Micro, màu đen, dung lượng 32GB từ camera nhà bà Trần Thị N3, ghi nhận một phần nội dung diễn biến sự việc tại sân nhà bà N3. Cơ quan điều tra đã đưa vào theo hồ sơ vụ án.

Thu giữ của Quách Văn T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04s, tuy nhiên quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T.

Về vấn đề dân sự: bị cáo T đã tác động tới gia đình chủ động gặp gỡ, bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 chân váy bò màu xanh, 01 áo phông màu trắng, 01 quần con màu hồng, đã qua sử dụng (là quần áo của cháu Bùi Yến N1 do mẹ cháu N1 giao nộp);
  • 01 áo phông cổ tròn màu xanh, trên áo có in chữ 399 Slogan, cổ áo rộng 23cm, tay áo rộng 17cm; 01 quần vải màu đen, dài 94cm, cạp quần rộng 42cm, chân ống rộng quần rộng 17cm; 01 quần đùi màu đen, sọc đỏ, trên quần có chữ Tennis, dài 44,5cm cạp quần rộng 26cm, ống quần rộng 29cm (là quần áo, thu giữ của Quách Văn T);

Được chuyển tới Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành để bảo quản và chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSTT ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Quách Văn T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 của Bộ luật hình sự.

Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 146; b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Quách Văn T từ 09 đến 12 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (05/7/2024).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), tại phiên tòa đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với : 01 chân váy bò màu xanh, 01 áo phông màu trắng, 01 quần con màu hồng, đã qua sử dụng (là quần áo của cháu Bùi Yến N1 do mẹ cháu N1 giao nộp không yêu cầu lấy lại); 01 áo phông cổ tròn màu xanh, trên áo có in chữ 399 Slogan, cổ áo rộng 23cm, tay áo rộng 17cm; 01 quần vải màu đen, dài 94cm, cạp quần rộng 42cm, chân ống rộng quần rộng 17cm; 01 quần đùi màu đen, sọc đỏ, trên quần có chữ Tennis, dài 44,5cm cạp quần rộng 26cm, ống quần rộng 29cm (là quần áo, thu giữ của Quách Văn T bị cáo không yêu cầu lấy lại);

Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại thống nhất với bản cáo trạng truy tố của VKS, thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tài phiên tòa. Phần dân sự người đại diện cho bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận dân sự đầy đủ không yêu cầu gì thêm.

Tại phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại thống nhất với bản cáo trạng truy tố của VKS không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Quách Văn T đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ quá trình rửa vệ sinh cho cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 12/12/2018 là hàng xóm, sau đó, do ham muốn tình dục của bản thân nên T đã thực hiện hành vi dùng lòng bàn tay trái của mình tiếp xúc, xoa, sờ, chà xát bên ngoài âm hộ của cháu Bùi Yến N1. Hành vi của Quách Văn T đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 164 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của Quách Văn T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác, đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe tình dục của trẻ em được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân do đó cần phải được xử lý nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ sức cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và cũng phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quách Văn T đã nhận tội và khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của bản thân, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, đầu thú, tại phiên tòa đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên HĐXX được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về dân sự: Bị cáo T đã tác động tới gia đình chủ động gặp gỡ, bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), tại phiên tòa đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại.

[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 chân váy bò màu xanh, 01 áo phông màu trắng, 01 quần con màu hồng, đã qua sử dụng (là quần áo của cháu Bùi Yến N1 do mẹ cháu N1 giao nộp); 01 áo phông cổ tròn màu xanh, trên áo có in chữ 399 Slogan, cổ áo rộng 23cm, tay áo rộng 17cm; 01 quần vải màu đen, dài 94cm, cạp quần rộng 42cm, chân ống rộng quần rộng 17cm; 01 quần đùi màu đen, sọc đỏ, trên quần có chữ Tennis, dài 44,5cm cạp quần rộng 26cm, ống quần rộng 29cm (là quần áo, thu giữ của Quách Văn T). Đây là những vật chứng thu được từ hiện trường vụ án và đã qua sử dụng, không có giá trị nên cần tiêu hủy là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo là gia đình hộ cận nghèo tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí cho bị cáo. HĐXX căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn tiền án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Quách Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (05/7/2024).
  • Áp dụng: Áp dụng Điều 136, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 chân váy bò màu xanh, 01 áo phông màu trắng, 01 quần con màu hồng, đã qua sử dụng (là quần áo của cháu Bùi Yến N1 do mẹ cháu N1 giao nộp); 01 áo phông cổ tròn màu xanh, trên áo có in chữ 399 Slogan, cổ áo rộng 23cm, tay áo rộng 17cm; 01 quần vải màu đen, dài 94cm, cạp quần rộng 42cm, chân ống rộng quần rộng 17cm; 01 quần đùi màu đen, sọc đỏ, trên quần có chữ Tennis, dài 44,5cm cạp quần rộng 26cm, ống quần rộng 29cm (là quần áo, thu giữ của Quách Văn T).

  • + Về Dân sự: Ghi nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.
  • + Về án phí: Miễn tiền án phí HSST cho bị cáo Quách Văn T.

Án xử kín sơ thẩm, có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Vĩnh Lộc
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thạch Thành;
  • - Đội THAHS công an Thạch Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quách Văn Tuấn - Dâm ô
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger