Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tâm

Bà Phạm Thị Khanh

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Công Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam công an thành phố H), Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn A, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2004, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Đào Thị T1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm 10/2024/HS-ST ngày 06-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xử phạt Lê Văn A 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xoá án tích); tiền sự: Không; hiện đang chấp hành án phạt tù từ ngày 18-3-2024 đến nay theo Quyết định thi hành án số 25/2024/QĐ-CA ngày 08-3-2024; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu T2; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10-3-2024, Lê Văn A phát hiện nhà hàng xóm là chị Nguyễn Thị Thu T2 khoá cổng, không có người ở nhà nên đã đột nhập vào nhà bằng cách trèo qua hàng rào sát ao gần cổng nhà Văn A1 với mục đích để trộm cắp tiền và tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Khi vào đến khu vực sân nhà chị T2, Văn A1 thấy cửa chính đang mở nên đi vào trong nhà. Lúc này, Văn A1 nghe thấy tiếng động trong phòng của chị T2 nên đi lên phòng thờ ở gác xép tầng 2 và nấp sau rèm cửa chờ thời cơ trộm cắp tài sản. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, Văn A1 thấy chị T2 đi ra khỏi phòng và xuống khu vực bếp. Văn A1 đi xuống và tiến về phòng chị T2 mở cửa thì thấy cửa phòng khóa nên không vào được để trộm cắp tài sản. Sau đó Văn A1 quay lại khu vực phòng thờ để lẩn trốn thì bị chị T2 và ông Nguyễn Văn H (là chú của chị T2) phát hiện và trình báo Công an xã V lập biên bản giải quyết.

Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 09-10-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Văn A về tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn A đã khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 15, Điều 57 xử phạt Lê Văn A từ 09 đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành 01 tháng 05 ngày của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (bị cáo đã chấp hành được 07 tháng 25 ngày kể từ ngày 18-3-2024), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 10 tháng 05 ngày đến 13 tháng 05 ngày tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3 năm 2024 tại thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng, Lê Văn A đã có hành vi lén lút đột nhập vào phòng ngủ của chị Nguyễn Thị Thu T2 với mục đích trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản gì thì bị phát hiện. Lê Văn A không thực hiện được đến cùng vì hành vi bị phát hiện, ngăn chặn. Mặc dù chưa trộm cắp được tài sản nhưng bản thân Lê Văn A đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[5.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

[5.2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bản thân bị cáo đã có 01 tiền án cùng về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân lại tiếp tục có hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản của người khác, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tại phiên tòa mới đủ tác dụng, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5.3] Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự nên hình phạt tù không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định theo khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.

[5.4] Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 01 tháng 05 ngày của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (bị cáo đã chấp hành được 07 tháng 25 ngày kể từ ngày 18-3-2024), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu T2 không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử xét không phải xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15, khoản 3 Điều 57; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn A 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 01 (một) tháng 05 (năm) ngày của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 06-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (bị cáo đã chấp hành được 07 tháng 25 ngày kể từ ngày 18-3-2024), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 10 (mười) tháng 05 (năm) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-11-2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Lê Văn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PV06, PC10);
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn A - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger