TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 25-10-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đình Phấn;
- Ông Lê Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Tuyết. Sinh ngày: 20/10/1988, nơi sinh, nơi cư trú: Tổ B, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và con bà Phạm Thị N; bị cáo có chồng là Hoàng Thọ Q, sinh năm 1984, hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Nam Định; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án; tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024 đến ngày 06/7/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.
- Người làm chứng: Ông Mai Xuân T1; vắng mặt;
- Người chứng kiến:
- + Anh Mai Văn Q1, vắng mặt;
- + Chị Phạm Thị T2, vắng mặt;
- + Bà Bùi Thanh T3, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 ngày 30/6/2024, Trần Thị T4 mang theo 01 cóng thủy tinh, đi xe bus từ nhà ở tổ B, thị trấn X lên thành phố N tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực nhà C tầng thuộc phường T, thành phố N, T4 gặp một người phụ nữ lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có bán ma túy, T4 hỏi mua 200.000 đồng Methamphetamie và 100.000 đồng Heroine. Người phụ nữ đồng ý bán, nhận tiền rồi đưa cho T4 01 túi nilong màu trắng kích thước (2x2) cm bên trong chứa chất rắn, dạng hạt tinh thể màu trắng và 01 gói giấy nhỏ kích thước (0,5x01) cm trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. T4 nhận kiểm tra, xác định là M và H, cầm trong lòng bàn tay phải, sau đó ra đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông lạ mặt về huyện X. Khoảng 9 giờ cùng ngày về đến khu vực chân cầu L, T4 bảo người đàn ông dừng xe lại, T4 xuống xe đi vào nhà nghỉ T5 thuộc Xóm A, xã X, huyện X mục đích thuê phòng trọ để sử dụng ma túy. Khi T4 vào đến gần cổng nhà nghỉ thì Tổ công tác của Công an huyện X đang làm nhiệm vụ thấy có biểu hiện nghi vấn, đã yêu cầu kiểm tra, thu giữ trên tay của T4 01 túi nilong trong suốt, trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1), 01 gói giấy nhỏ kích thước (0,5x01) cm trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M2), 01 coóng thủy tinh, dài 12,5 cm, đường kính ống: 0,5 cm, đầu hình dạng phễu, T4 dùng để sử dụng ma túy đá, trong phễu và thành ống bám dính chất tinh thể màu trắng là dụng cụ (niêm phong ký hiệu M3).
Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị T4, Cơ quan điều tra thu giữ tại phòng ngủ: 01 đầu khò bằng nhựa màu đen, có gắn ống kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh hình dạng không xác định kích thước 13,5 cm, đường kính 0,5 cm (niêm phong ký hiệu K); 01 bật lửa màu đỏ; 01 ống sắt kích thước (0,5x5) cm.
Kết quả xét nghiệm định tính Morphin, Amphetamin đối với Trần Thị T4 ngày 30/6/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Trần Thị Tuyết dương tính với M1, A.
Tại bản kết luận giám định số 1230/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M1, mẫu dạng tinh thể màu trắng bám dính ký hiệu M3, K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Methaphetamine. Khối lượng mẫu M1: 0,197 gam. Khối lượng mẫu M3, K: không xác định được khối lượng mẫu.
Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng, niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M2: 0,036 gam.
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện X, Trần Thị T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bản thân như đã nêu trên.
Cáo trạng số 79/CT-VKSXT, ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Trần Thị T4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T4 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị T4 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1230/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N.
Đối với 01 đầu khò bằng nhựa màu đen, có gắn ống kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh hình dạng không xác định kích thước 13,5 cm, đường kính 0,5 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 ống sắt kích thước (0,5x5) cm là các dụng cụ đã qua sử dụng mà trước đây bị cáo T4 dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 9 giờ ngày 30/6/2024, tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Trần Thị T4 đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 chất ma túy là M và Heroine có tổng khối lượng là 0,233 gam (trong đó 0,197 gam Methamphetamine và 0,036 gam Heroine), mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an huyện X phát hiện bắt quả tang đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; chồng bị cáo cũng là người nghiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Nam Định và bản thân bị cáo cũng là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ:
Số ma tuý đã thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 đầu khò bằng nhựa màu đen, có gắn ống kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh hình dạng không xác định kích thước 13,5 cm, đường kính 0,5 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 ống sắt kích thước (0,5x5) cm là các dụng cụ đã qua sử dụng mà trước đây bị cáo T4 dùng để sử dụng ma túy đá, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo T4, bị cáo T4 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra Công an huyện X không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.
[9] Đối với người đàn ông mà cho bị cáo đi nhờ xe, bị cáo T4 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ do tiện đường đi về X nên bị cáo T4 nhờ xe; người đàn ông này không biết bị cáo T4 đang tàng trữ trái phép ma túy trong người để sử dụng cho bản thân vì trong suốt quãng đường đi, bị cáo T4 không nói cho người đàn ông này biết, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X không đặt ra vấn đề xử lý là phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị T4 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt bị cáo Trần Thị T4 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/6/2024.
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1230/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. (M1: 0,172 gam Methamphetamine; M3, K không xác định được khối lượng Methamphetamine; M2: 0,020 gam Heroine); 01 đầu khò bằng nhựa màu đen, có gắn ống kim loại màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 ống sắt hình dạng không xác định kích thước (0,5x5) cm.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/CCTHADS ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Trần Thị T4 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
