Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 25-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Văn Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông K' Đào - Nguyên hiệu trường trường tiểu học Liên Đầm;

Ông Phan Văn Phương - Nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh.

- Thư ký phiên tòa: ông Phí Hoàng Tuấn - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Mai Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2008 tại Lâm Đồng (tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 00 tháng 13 ngày); nơi cư trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1986 và bà Lê Thị Thu Q, sinh năm: 1987; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: bà Mơ T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985, bà Lê Thị Thu Q, sinh năm: 1987; địa chỉ: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, là cha mẹ của bị cáo H.

Bị hại: ông Lê Công T2, sinh năm: 1989; địa chỉ: thôn L, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Lê Thị Thu Q, sinh năm: 1987; địa chỉ: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1990; địa chỉ: xóm B, thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 26/5/2024, Nguyễn Mạnh H trên đường đi từ thị trấn D, huyện D về nhà, khi đi qua đoạn đường thuộc thôn E, xã L, huyện D thì gặp đối tượng tên M (không rõ nhân thân lai lịch, là đối tượng cùng sử dụng ma túy với H) đang đi bộ trên đường Q thì H dừng xe lại nói chuyện, trong quá trình nói chuyện thì H và đối tượng tên M đã bàn bạc nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Sau đó H và đối tượng tên M điều khiển xe mô tô biển số 49AF - 086.36 (xe của bà Lê Thị Thu Q là mẹ H, H mượn để đi chơi) đi từ hướng Quốc lộ B thuộc thôn E, xã L, huyện D đi đến khu vực S thuộc thôn I, xã L, huyện D thì phát hiện 01 xe máy múc hiệu ISUZU, loại EX 135 của ông Lê Công T2, sinh năm: 1989, nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng đậu tại đây và không có người trông coi. Khoảng 00 giờ 30 đến 01 giờ 00 phút ngày 27/5/2024 H và M giấu xe máy vào trong vườn cà phê rồi đi bộ đến vị trí xe máy múc đậu, H và M lấy kìm, tua vít có sẵn trên xe máy múc tháo trộm 03 bình ắc quy và 01 cục đề của xe máy múc. Khi lấy trộm xong M ở lại khu vực vườn cà phê thuộc thôn I, xã L tháo các dây đồng ở cục đề còn H điều khiển xe chở 03 bình ắc quy đã trộm cắp được mang đi bán cho bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1990, địa chỉ: thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là chủ tiệm thu mua phế liệu với giá 1.225.000 đồng. Khi bán thì H nói là các tài sản này là của H do hư không sử dụng được nữa đem bán thì bà A đồng ý mua. Sau khi bán xong, H quay lại khu vực vườn cà phê nơi M đang chờ. Khi đến nơi, thấy H có biểu hiện nghi vấn nên chủ máy múc và người dân giữ lại rồi báo cho Công an xã L, còn M khi thấy H bị giữ lại đã bỏ chạy.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 49AF - 086.36; 03 bình ắc quy; 01 cục đề (đã bị tháo các dây đồng bên trong). Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả xe mô tô biển số 49AF- 086.36 cho bà Q; trả 03 bình ắc quy, 01 cục đề (đã bị tháo các dây đồng bên trong) cho ông Lê Công T2 theo quy định; 01 kìm bấm màu cam thu giữ trên xe của H.

2

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 351/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 02 bình ắc quy GS A80 màu trắng, nắp nhựa màu xanh có giá trị là 3.700.000 đồng; 01 bình ắc quy Đồng Nai 70A màu trắng, nắp nhựa màu đen có giá trị là 1.666.666 đồng; 01 cục đề (đã bị tháo các dây đồng bên trong) có giá trị là 2.683.333 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.049.999 đồng.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Mạnh H sinh ngày 14/5/2008, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là ngày 27/5/2024, lúc này H mới 16 tuổi 00 tháng 13 ngày là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Mạnh H cùng gia đình đã bồi thường cho người bị hại là ông Lê Công T2 số tiền 10.000.000 đồng, bồi thường cho bà Nguyễn Thị A số tiền 1.255.000 đồng. Những người này không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, không có nội dung gì thay đổi. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thống nhất và không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị hại trình bày chỉ bị mất 03 bình ắc quy, 01 cục đề, ngoài ra không bị mất tài sản nào khác. Ông đã nhận lại tài sản, tiền bồi thường 10.000.000 đồng từ phía bị cáo và gia đình, không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Q trình bày cho con là bị cáo mượn xe mô tô biển số 49AF- 086.36 đi chơi, không biết bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản, bà đã nhận lại chiếc xe mô tô biển số 49AF- 086.36, không yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng trình bày luận tội, tranh luận đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 01/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H

3

phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các Điều 36, 50, 90, 91, 101; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đã nhận lại tài sản, tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: 01 kìm bấm màu cam thu giữ trên xe của H xét không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: thống nhất tội danh, điều luật truy tố đối với bị cáo. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa đầy đủ; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã nhận thức được hành vi của mình là sai nên đã cùng gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và người liên quan; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại cũng có lỗi trong việc quản lý tài sản dẫn đến bị cáo có cơ hội thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định

4

của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà A có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/5/2024, tại thôn I, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Nguyễn Mạnh H đã thực hiện hành vi lén lút dùng kìm bấm, tua vít tháo trộm 02 bình ắc quy GS A80 màu trắng, nắp nhựa màu xanh có giá trị là 3.700.000 đồng; 01 bình ắc quy Đồng Nai 70A màu trắng, nắp nhựa màu đen có giá trị là 1.666.666 đồng; 01 cục đề (đã bị tháo các dây đồng bên trong) có giá trị là 2.683.333 đồng của Lê Công T2. Tổng giá trị tài sản mà H trộm cắp là 7.049.999 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên cần áp dụng thêm các quy định tại chương XII Bộ luật hình sự để xử lý.

[5] Về quyết định hình phạt: xét thấy khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ tuổi thành niên nhưng bị cáo biết, nhận thức rõ được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực

5

hiện hành vi trộm cắp tài sản là 03 bình ắc quy, 01 cục đề với tổng giá trị tài sản mà H trộm cắp là 7.049.999 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự, trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây nghi kỵ lẫn nhau nên cần xử phạt bị cáo hình phạt thật nghiệm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về khấu trừ thu nhập: bị cáo phạm tội là người chưa thành niên, làm nông thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 kìm bấm màu cam là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với bà Nguyễn Thị A là chủ tiệm thu mua phế liệu mua bình ắc quy, do khi mua H nói là các tài sản này là của H do hư không sử dụng được nữa đem bán. Do bà A không biết tài sản là do H phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý bà A về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[10] Đối với đồi tượng tên M tham gia trộm cắp tài sản cùng H do không có thông tin về nhân thân, hình ảnh đối tượng nên chưa có cơ sở để xử lý, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh xử lý theo quy định là phù hợp.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các Điều 36, 50, 90, 91, 101; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Mạnh H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án. Miễn áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

6

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) kìm bấm màu cam.

(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Quyền kháng cáo: bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Thu Q có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị A vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Công an huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - BP theo dõi THA;
  • - Lưu HS - AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Chiến

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger