TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày 07/10/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Đình Xiềng và ông Nguyễn Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn N; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Tấn N tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân nên các bên đã tiến hành ký kết hôn vào ngày 09/10/2000 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Sau đó, bà T và ông N chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến khoảng năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống hằng ngày ông N không có trách nhiệm cùng bà T thực hiện các công việc trong gia đình mà phần lớn thời gian ông N đi chơi cùng bạn bè, tham gia cờ bạc dẫn đến nợ nần, nhiều người đến đòi nợ gây ảnh hưởng đến bà T và tâm lý các con. Vì muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình nên bà T đã trả nợ thay cho ông N và bỏ qua nhiều lần, đồng thời khuyên ông N nên từ bỏ để cùng bà T xây dựng cuộc sống gia đình nhưng ông N không thay đổi nên vợ chồng nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, bà T không muốn tiếp tục chung sống với ông N nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông N.
- Về con chung: Bà Đỗ Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 28/7/2010. Bà T không yêu cầu ông Nguyễn Tấn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Đỗ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, chấp nhận cho bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn N. Về nuôi con chung, giao cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 28/7/2010 cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Bà Đỗ Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Tấn N đã tự nguyện đăng ký kết hôn và chung sống cùng nhau nên hôn nhân hợp pháp. Do xảy ra mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, bà T muốn ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông N nên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về ly hôn và nuôi con khi ly hôn nên quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng đã vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện: Bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Tấn N tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 giữa bà T và ông N bắt đầu xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân do ông N chưa có trách nhiệm trong việc quan tâm, chăm sóc cuộc sống gia đình, vì theo bà T trình bày ông N giành nhiều thời gian để vui chơi cùng bạn bè, không thực hiện các công việc trong gia đình nên vợ chồng nhiều lần xảy ra cãi nhau. Mặc dù bà T đã khuyên can nhiều lần nhưng ông N không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Đối với ông Nguyễn Tấn N đã được Tòa án thông báo yêu cầu khởi kiện của bà T, được tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông N không trình bày ý kiến, yêu cầu; không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không tham gia tố tụng, cho thấy ông N cũng không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà T. Mặt khác, hiện tại bà T và ông N không còn chung sống cùng nhau nên các bên đều không mong muốn khắc phục mâu thuẫn để được đoàn tụ. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông N.
[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung:
Bà T và ông N đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 28/7/2010. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh thể hiện, hiện nay ông N đã chuyển đến nơi khác để sinh sống nên cháu N1 đang do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T trình bày, thỉnh thoảng ông N mới đến thăm con mà không sắp xếp được thời gian để thường xuyên trông nom, chăm sóc con. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông N cũng không phản đối hoặc đưa ra yêu cầu về nuôi con với nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, giao cháu Nguyễn Minh N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
[2.3] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[3] Về án phí: Bà Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Tấn N.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 28/7/2010 cho bà Đỗ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Bà Đỗ Thị T và ông Nguyễn Tấn N đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009685 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vũ |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 07/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị T - Nguyễn Tấn N
