|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 24 – 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thượng Quang Minh
2. Ông Điểu Kim Rương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1995 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Chó Đ1; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12.
Nơi đăng ký thường trú: ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: ấp H, xã T, huyện H, Bình Phước.
Cha: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1972 (đã chết), Mẹ: Vũ Thị Diễm T1, sinh năm: 1975; Bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2003; Bị cáo chưa có vợ, con
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 18/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/11/2021, nhưng chưa đóng án phí nên chưa được xóa án tích theo quy định.
Tiền sự: Không
Về nhân thân: Ngày 18/11/2015, Công an huyện L xử phạt hành chính với số tiền 375.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt;
Ngày 14/02/2020 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 20 tháng.
Ngày 26/3/2024 bị cáo có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đến ngày 04/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 26/3/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Hồ Đắc Kim L, sinh năm 2000 tại: tỉnh Bình Phước
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi đăng ký thường trú: khu phố P, phường A, thị xã B, Bình Phước
Nơi ở hiện tại: khu phố Xa Cam 2, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, Bình Phước
Cha: Phan Chí H, sinh năm 1970, Mẹ: Hồ Đắc Cam T2, sinh năm: 1971;
Bị cáo có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Ngày 26/3/2024 bị cáo có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đến ngày 04/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 26/3/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Hoàng Gia B, sinh năm 1991 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Xíu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12.
Nơi thường trú: ấp T-L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: ấp T, xã T, huyện H, Bình Phước;
Cha: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1953 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1954 (đã chết); Bị cáo là con một trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 31/5/2021, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xử phạt 02 năm 02 tháng tù về các tội Trộm cắp tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 30/10/2022, bị cáo chấp hành xong án phạt tù, hiện tại chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Ngày 26/3/2024 bị cáo có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đến ngày 04/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 27/3/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Vũ Văn D, sinh năm 1999 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: M; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12. (đã chết).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 25/3/2024, Nguyễn Hoàng Gia B có nhu cầu sử dụng ma túy nên một mình điều khiển xe môtô biển số: 59P1-025.36 đi đến khu vực chợ xã L, huyện L tìm gặp một nam thanh niên tên Q (không rõ lai lịch) mua được một gói ma túy, với giá 2.000.000 đồng mang về nhà tại ấp H, xã T, huyện H và B đã sử dụng một ít ma túy, số ma túy còn lại B cất giấu để sử dụng. Đến trưa ngày 26/3/2024, do cần tiền tiêu xài nên B gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho Nguyễn Tấn Đ để nhờ Đ bán giùm một gói ma túy (số ma túy còn lại) với giá 1.400.000 đồng thì Đ đồng ý. Sau đó Đ gọi điện thoại giới thiệu cho Trần Thị Ngọc H1, ngụ tại ấp H, xã T, huyện H mua gói ma túy trên của B thì H1 đồng ý. Lúc này, do đang ở thị xã B và không có xe môtô nên Đ gọi điện thoại cho Hồ Đắc Kim L, để rủ L đi lấy ma túy và lên thị xã B để chở Đ thì L đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe môtô biển số: 93P1-222.21 đến và giao xe cho Đ chở L đi đến nhà để gặp Trần Thị Ngọc H1 để lấy tiền của H1 đi mua ma túy của B. Khi đến nơi do H1 không có nhà nên Đ để L ở lại nhà H1, rồi một mình điều khiển xe môtô của L đi đến nhà của B để mua ma túy. Khi đến nhà B, Đ đã thế chấp xe môtô biển số: 93P1-222.21 cho B để mua gói ma túy của B với giá 1.400.000 đồng. Do Đ đã cầm xe môtô biển số: 93P1-222.21 cho B nên B cho Đ mượn xe môtô biển số: 59P1-025.36 của B để Đ mang ma túy về bán cho H1 lấy tiền trả cho B. Khi Đ mang gói ma túy mua được quay về nhà H1 thì H1 đổi ý không mua ma túy của Đ nữa nên H1 không có ở nhà.
Do không bán được ma túy cho Trần Thị Ngọc H1 nên Đ và L bàn bạc và thống nhất sẽ bán hết số ma túy nêu trên để lấy tiền chuộc xe môtô của L và lấy tiền lời. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho anh họ là Vũ Văn D, để bán ma túy thì D đồng ý mua 400.000₫ ma túy để sử dụng. Đ và L mang ma túy đi đến nhà của D, thuộc tổ E, ấp L, xã T, huyện H. Tại đây, Đ đổ số ma túy D mua vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của D; rồi gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng Gia B xin số tài khoản của B để D chuyển khoản số tiền 400.000đ trả tiền mua ma túy. Sau đó, D cho Đ và L cùng tham gia sử dụng số ma túy trên với D. Quá trình sử dụng có bạn gái của D là Đặng Thị K, sinh năm: 1995 (đang ở cùng nhà với D) tham gia sử dụng ma túy chung. Sau khi sử dụng ma túy xong Đ và L tiếp tục điều khiển xe môtô đi tìm người mua ma túy nhằm mục đích bán hết số ma túy còn lại. Khi cả hai đi đến khu vực đường nhựa thuộc ấp E, xã A thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ một gói ma tuý L đang cất giấu trong túi quần đang mặc trên người.
Đối với Vũ Văn D, sau khi cùng sử dụng ma túy với Đ, L và K xong thì đến khoảng gần 24 giờ ngày 26/3/2024 D tiếp tục lấy bộ dụng cụ ma túy ra và cùng K sử dụng hết số ma túy còn lại trong nỏ thủy tinh, rồi cả hai đi ngủ
Sau khi bắt quả tang đối với Đ và L, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét và bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Hoàng Gia B về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và Vũ Văn D về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L, Nguyễn Hoàng Gia B và Vũ Văn D cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy).
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L, Nguyễn Hoàng Gia B và Vũ Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số: 351/KL-KTHS ngày 04/04/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon, hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,8585 gam (số ma túy thu giữ của Đ và L).
- Chất bám dính màu nâu đen (ký hiệu M1) trong bầu tròn của nỏ thủy tinh uốn cong được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; không xác định khối lượng do mẫu tồn tại ở dạng vết (bút lục số 81).
Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- Đối với 0,8585 gam chất ma túy loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 0,6993 gam được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 351/2024M ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; đây là đồ vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với ống thuỷ tinh trong suốt một đầu được uốn cong và có hình bầu tròn được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 351/2024M ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, đây là đồ vật không còn giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng - xanh biển số 93E1-222.21: Quá trình điều tra xác định xe môtô trên do mẹ của Hồ Đắc Kim L bà Hồ Đắc Cam T2, sinh năm: 1971 là chủ sở hữu hợp pháp. Bà T2 không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hồ Đắc Kim L. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe môtô trên cho bà Hồ Đắc Cam T2.
- Đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu Đen- Vàng, biển số: 59E1-025.36: Quá trình điều tra xác định xe môtô trên do anh Nguyễn Minh L1, sinh năm: 1992, Chỗ ở: ấp Đ-S, xã T, huyện H là chủ sở hữu hợp pháp. Anh L1 không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoàng Gia B. Căn cứ điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe môtô trên cho anh Nguyễn Minh L1.
- Đối với điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A6, màu xanh thu giữ của Hồ Đắc Kim L. Quá trình điều tra xác định điện thoại trên do cha của Hồ Đắc Kim L ông Phan Chí H, sinh năm: 1970, là chủ sở hữu hợp pháp. Ông H không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hồ Đắc Kim L. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại trên cho ông Phan Chí H.
- Đối với điện thoại di động hiệu HUAWEI màu hồng phấn. Quá trình điều tra xác định điện thoại trên do Đặng Thị K (bạn gái Vũ Văn D) là chủ sở hữu hợp pháp. K không biết việc Vũ Văn D sử dụng điện thoại di động của K để chuyển tiền mua ma túy vào ngày 26/3/2024. Căn cứ điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại trên cho bà Đặng Thị Kiều .
- Đối với điện thoại di động hiệu OPPO F9 thu giữ của Nguyễn Hoàng Gia B, điện thoại trên không phải là phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án xem xét trả lại cho B.
- Đối với các đồ vật gồm: Bộ D1 sử dụng ma túy tự chế gồm một vỏ chai nhựa trong suốt không nhãn mác nắp chai màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn gắn với một đoạn ống hút nhựa màu đen và lỗ còn lại gắn với một nỏ thủy tinh trong suốt dài 04cm cùng một đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng dài 9,5cm; Bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: Vỏ chai nhựa trong suốt bên ngoài dán nhãn hiệu STING có nắp nhựa màu đỏ. Trên nắp nhựa có hai lỗ tròn gắn với một đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 14,8cm và một đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng dài 08cm; 01 nỏ thủy tinh tự chế dài 3,8cm, một đầu uốn cong có bầu tròn; 01 Quẹt ga màu tím trắng nhãn hiệu Hoa Việt không còn ga, không có bộ phận đánh lửa; 01 kéo bằng kim loại dài 8,5cm; 01 túi nylon hàn kín ba mặt, có kích thước 3,3cm x 02cm; 15 đoạn ống hút nhựa hàn kín một đầu, đoạn ngắn nhất có kích thước dài 2,2cm và đoạn dài nhất có kích thước dài 2,8cm. Đây là những đồ vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Về vấn đề dân sự:
Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Hoàng Gia B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Vũ Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L và Nguyễn Hoàng Gia B thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố đối với Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L và Nguyễn Hoàng Gia B như cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L và Nguyễn Hoàng Gia B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị rút yêu cầu truy tố đối với bị cáo Vũ Văn D vì bị cáo bị truy tố đã chết căn cứ theo Thông báo số 33/TB-CQQLTGTG ngày 21/9/2024 của Công an huyện H về việc người bị tam giam chết; Giấy báo tử ngày 23/9/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điển h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hồ Đắc Kim L mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Đề nghị đình chỉ xét xử đối với bị cáo Vũ Văn D do Viện kiểm sát rút yêu cầu truy tố đối với bị cáo Vũ Văn D.
Đề nghị xử lý vật chứng vụ án: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L, Nguyễn Hoàng Gia B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, như sau:
Đối với Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L: Vào ngày 26/03/2024, Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L đã có hành vi cùng nhau bàn bạc và thống nhất mang chất ma túy đi bán trái phép cho người mua để hưởng lợi. Đ và L đã bán cho Vũ Văn D 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho D xong Đ và L tiếp tục điều khiển xe môtô đi tìm người mua ma túy để bán nhưng đang trên đường thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ một gói ma túy L đang cất giấu trên người. Qua giám định xác định số ma túy thu giữ của Đ và L, có khối lượng là: 0,8585 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi trên của Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Hoàng Gia B: Vào ngày 26/03/2024, B đã có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Tấn Đ để lấy tiền lời. Hành vi trên của Nguyễn Hoàng Gia B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- [3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt quả tang, Kết luận giám định, phù hợp với lời khai khác và vật chứng của vụ án.
Như vậy, có căn cứ xác định hành vi mua ma túy để bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy để kiếm lợi bất chính của các bị cáo Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L, phạm tội 02 lần trở lên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành mua ma túy để bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy để kiếm lợi bất chính của bị cáo Hoàng Gia B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
- [4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân: Ma túy là chất gây nghiện, là nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống. Tệ nạn ma túy còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, làm lan truyền đại dịch HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.
Các bị cáo đang ở độ tuổi lao động, có đủ điều kiện lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì lười lao động, các bị cáo lại tham gia vào việc bán ma túy để kím tiền lời và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là sự tiếp tay cho số lượng đối tượng nghiện ma túy ngày càng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện.
Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L: Vào ngày 26/03/2024, Nguyễn Tấn Đ và Hồ Đắc Kim L đã có hành vi cùng nhau bàn bạc và thống nhất mang chất ma túy đi bán trái phép cho người mua để hưởng lợi nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn; bị cáo Đ và L không có bàn bạc, phân công phân nhiệm chặt chẽ mà cùng nhau nảy sinh định mua ma túy về bán cho người khác để lấy tiền lời mua ma túy sử dụng cho bản thân. Các bị cáo biết việc mua bán trái phép chất m atuys là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền lời từ việc bán ma túy mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện cho thấy bị cáo Đ và L có ý thức coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Tấn Đ có 01 tiền án, ngày 18/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/11/2021, nhưng chưa đóng án phí nên chưa được xóa án tích theo quy định. Bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B cũng có 01 tiền án, ngày 31/5/2021, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xử phạt 02 năm 02 tháng tù về các tội Trộm cắp tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 30/10/2022, bị cáo chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáoĐạt và bị cáo B phạm tội lần này thuộc trường hợp phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Đ có nhân thân xấu, ngày 18/11/2015, Công an huyện L xử phạt hành chính với số tiền 375.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt; ngày 14/02/2020 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 20 tháng. Tuy nhiên, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Đối với hành vi của Vũ Văn D là tổ chức cho nhiều người sử dụng ma túy nhiều lần đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa bị cáo D đã chết và Đại diện VKS cũng có đề nghị rút yêu cầu truy tố đối với bị cáo D. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần truy tố của bị cáo Vũ Văn D.
- Đối với Trần Thị Ngọc H1: Quá trình điều tra xác định vào ngày 26/3/2024, ban đầu H1 đã đồng ý mua ma túy do Nguyễn Tấn Đ giới thiệu nhưng sau đó do không có tiền nên H1 không mua ma túy của Đ nữa; thực tế giữa H1 và Đ chưa trực tiếp gặp mặt, chưa phát sinh giao dịch mua bán ma túy. Bên cạnh đó sau khi không bán được ma túy cho H1 thì Đ đã bán số ma túy trên cho D. Do đó hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không có cơ sở xử hình sự đối với Trần Thị Ngọc H1.
- Đối với Đặng Thị K: Quá trình điều tra xác định, K chỉ tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Vũ Văn D nên không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử phạt hành chính. Ngày 23/7/2024, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đặng Thị K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.
- Đối với nam thanh niên tên Q đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng Gia B: Quá trình xác minh thu thập tài liệu không xác định được lai lịch của nam thanh niên tên Q nên không có cơ sở đề nghị xử lý.
- [5] Về trách nhiệm dân sự:
Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự nên HĐXX không xem xét.
- [6] Về xử lý vật chứng:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đề nghị xử lý vật chứng như trên là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
- [7] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật;
- [8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L và Nguyễn Hoàng Gia B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điển h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ (C ) mức án 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hồ Đắc Kim L mức án 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B (Xíu) mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần truy tố bị cáo Vũ Văn D do bị cáo đã chết.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy:
Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng:
- Đối với 0,6993 gam ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 351/2024M ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B. Đối với ống thuỷ tinh trong suốt một đầu được uốn cong và có hình bầu tròn được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 351/2024M1 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
- Bộ D1 sử dụng ma túy tự chế gồm một vỏ chai nhựa trong suốt không nhãn mác nắp chai màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn gắn với một đoạn ống hút nhựa màu đen và lỗ còn lại gắn với một nỏ thủy tinh trong suốt dài 04cm cùng một đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng dài 9,5cm;
- Bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: Vỏ chai nhựa trong suốt bên ngoài dán nhãn hiệu STING có nắp nhựa màu đỏ. Trên nắp nhựa có hai lỗ tròn gắn với một đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 14,8cm và một đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng dài 08cm;
- 01 nỏ thủy tinh tự chế dài 3,8cm, một đầu uốn cong có bầu tròn; 01 Quẹt ga màu tím trắng nhãn hiệu Hoa Việt không còn ga, bộ phận đánh lửa bị tháo rời; 01 kéo bằng kim loại dài 8,5cm; 01 túi nylon hàn kín ba mặt, có kích thước 3,3cm x 02cm; 15 đoạn ống hút nhựa hàn kín một đầu, đoạn ngắn nhất có kích thước dài 2,2cm và đoạn dài nhất có kích thước dài 2,8cm.
- T5 trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím đã cũ, có màn hình bị nứt vỡ.
Các vật chứng khác, trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
(Các vật chứng được mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 63QĐ-VKS ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0006021 ngày 18/9/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).
- Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Hồ Đắc Kim L, Nguyễn Hoàng Gia B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
