Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 16 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Trần Xuân Ngọc và bà Trần Thị Bích Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 16/02/1989; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, đã chết và bà Nguyễn Thị H1; vợ: Trần Thị L1; con có: 03 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 00' ngày 21/5/2024, tại nhà nghỉ N2 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện T do ông Lưu Văn N làm chủ, Công an thị trấn Đ phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã B, huyện T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong lòng bàn tay phải của H 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON màu xanh, bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng, bên trong gói nilon có 01 gói giấy (một mặt màu trắng, một mặt màu xanh), bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng nghi là ma túy, H tự khai đây là gói ma túy heroin vừa mua được với giá 150.000đ để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt (vật chứng niêm phong theo đúng quy định ký hiệu M1); thu tại túi quần đang mặc của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, đã cũ, tạm giữ của H 01 xe mô tô, nhãn hiệu Sirius BKS 88E1-370.17.

Ngày 21/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định số 711/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định đối với mẫu ký hiệu M1. Tại bản kết luận giám định số 1474/KLGĐ ngày 25/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

“Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 0,1452g (không phẩy một bốn năm hai gam, không kể bao bì) là ma túy, loại heroine (H).

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan trưng cầu gồm: M1 = 0,0728 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong.

Về nguồn gốc gói ma túy, Nguyễn Văn H khai: Khoảng 10 giờ 40' ngày 21/5/2024, H đang ở nhà tại thôn Đ, xã B, huyện T thì có đối tượng tên T là bạn bè xã hội của H (H không biết tên, tuổi, địa chỉ của T) gọi đến số điện thoại 0981.168.xxx của H. T nói với H “lên thị trấn Đ đi, anh đưa cho cái mà dùng”, H hiểu ý T bán cho H gói ma túy mà dùng, Hiệp đồng Ý thì T bảo H đi lên phòng 203 nhà nghỉ N2 tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện T để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, H điều khiển xe mô tô BKS 88E1-370.17 đến nhà nghỉ N2, H gọi đến số điện thoại của T hỏi mua gói ma túy heroin với giá 150.000đ, trả tiền sau, T đồng ý. H đi lên phòng 203 gõ cửa phòng thấy T ra mở cửa, tại đây T đưa cho H 01 bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON, H kiểm tra bên trong có ma túy heroin, H cầm đi tìm địa điểm để sử dụng, khi xuống đến quầy lễ tân của nhà nghỉ N2 thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang như nêu trên.

Đối với đối tượng tên T, H khai tên T, số điện thoại của T có ba số cuối là 773, ngoài ra không có thông tin gì khác. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh ngày 21/5/2024, H gọi duy nhất một số điện thoại có 03 số cuối là 773, số điện thoại đầy đủ là 0362.511.xxx, chủ thuê bao là chị Nguyễn Thị N1 sinh năm 1983 ở thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, chị N1 khẳng định không đăng ký, không sử dụng số điện thoại trên và chị N1 không quen biết ai tên T, tên Nguyễn Văn H có địa chỉ như trên. Ngoài lời khai của H, hiện nay Cơ quan điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ điều tra trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.

Đối với ông Lưu Văn N là chủ nhà nghỉ N2, quá trình điều tra xác định ông N không biết việc Nguyễn Văn H đến để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu giám định được Phòng K Công an tỉnh V hoàn trả lại sau giám định là M1 = 0,0728 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 88E1-370.17, quá trình điều tra xác định là tài sản riêng của chị Trần Thị L1 sinh năm 1990 ở xã B, huyện T (là vợ của Nguyễn Văn H), được mua bằng tiền do chị L1 tích cóp mà có. H không đóng góp gì, đăng ký chính chủ. Hiện nay chiếc xe là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình đình chị L1. Ngày 21/5/2024, H tự ý sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy để sử dụng bị Công an phát hiện, bắt giữ, chị L1 không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị L1. Đối với chiếc xe ngày 09/8/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị L1 chiếc xe trên.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, đã cũ, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Văn H sử dụng vào việc liên lạc để mua ma túy nên đề nghị tịch thu bán phát mại, sung quỹ nhà nước.

Tại Bản cáo trạng số: 76/CT-VKSTĐ ngày 29/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 11 giờ 30' ngày 21/5/2024, tại quầy lễ tân của nhà nghỉ N2 thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện T, Nguyễn Văn H bị bắt quả tang đang tàng trữ 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON màu xanh, bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng, bên trong gói nilon có 01 gói giấy (một mặt màu trắng, một mặt màu xanh), bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng qua giám định xác định có tổng khối lượng 0,1452gam là ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
  3. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Do đó, Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  4. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân.

Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

  1. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  3. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định là M1=0,0728 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

    Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

  5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (21/5/2024).

  3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định là M1=0,0728 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

    Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

    (Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024).

  4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Đảo;
  • - Công an huyện Tam Đảo;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh;
  • - Bị cáo; Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hiệp phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger