|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
———
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân, ông Nguyễn Thái Linh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1985; địa chỉ: Đ, khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Mai Văn K, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã X (nay là xã Đ), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Hiện nay anh K đang lao động tại Đài Loan, nhưng không có địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị Kim O trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị O và anh Mai Văn K quen biết nhau khi còn lao động tại Đài Loan, sau một thời gian yêu thương nhau thì quyết định tiến tới hôn nhân. Đầu năm 2009, chị O về Việt Nam, anh K vẫn ở lại Đài Loan, cuối năm 2009, anh K về Việt Nam. Ngày 05/01/2010, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X (nay là xã Đ), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sinh sống cùng bố mẹ chồng ở X, N, tháng 6/2010, anh K tiếp tục sang Đài Loan lao động. Năm 2013, anh K về Việt Nam, vợ chồng chung sống với nhau được 5 năm (thời điểm này vợ chồng ra quê chị O ở Phú Thọ sinh sống) thì anh K lại đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về kinh tế, trong quan điểm dạy dỗ con cái, vợ chồng tranh cãi, mất tình cảm, khi mâu thuẫn chưa được giải quyết thì anh K đi nước ngoài nên vợ chồng càng xa cách. Năm 2022, anh K về nước, chị O đã yêu cầu anh K thực hiện thủ tục ly hôn nhưng anh K không ly hôn. Trong những ngày anh về nước, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Nay chị O xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử cho chị được ly hôn với anh Mai Văn K.
- Về con chung: Chị O và anh K có 02 con chung tên Mai Thiện B, sinh ngày 30/8/2010 và Mai Duy K1, sinh ngày 01/02/2015 hiện nay 02 con chung đang sống cùng chị O. Chị O có nguyện vọng nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Mai Văn K do đang lao động ở Đài Loan nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại buổi làm việc ngày 22/12/2023, tại nhà ông Mai Xuân T và bà Lê Thị H là bố mẹ đẻ của anh Mai Văn K ở thôn T, xã X (nay là xã Đ), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, với sự chứng kiến của chính quyền địa phương xã Đ, đại diện Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Ông T và bà H đã gọi điện trực tiếp bằng hình ảnh cho anh K để anh K trình bày quan điểm của mình để Tòa án lập Biên bản, cụ thể: Về nội dung các yêu cầu khởi kiện của chị O và các văn bản thông báo của Tòa án, thông qua các cuộc gọi với gia đình, anh K đã nắm bắt được đầy đủ. Hiện tại, do đang làm việc ở nước ngoài nên anh K không thể về tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án. Anh K thống nhất ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Mai Xuân T và bà Lê Thị H trực tiếp giao nhận các văn bản, tài liệu của Tòa án và thông báo lại cho anh K biết. Quan điểm của anh K về yêu cầu khởi kiện của chị O như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh K thống nhất như trình bày của chị O về quá trình kết hôn. Nay chị O yêu cầu ly hôn, anh K không đồng ý ly hôn vì vợ chồng không có mâu thuẫn, không cự cãi nhau.
- Về con chung: Anh K và chị O có 02 con chung là Mai Thiện B, sinh ngày 30/8/2010 và Mai Duy K1, sinh ngày 01/02/2015 hiện nay 02 con chung đang sống cùng chị O. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, anh K đồng ý giao các con chung cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh K tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung 5.000.000 đồng/02 con/tháng.
- Về tài sản chung: Anh K có nguyện vọng giải quyết về tài sản chung là số tiền anh K gửi vào tài khoản của chị O từ trước đến năm 2023, tuy nhiên anh K chưa thể cung cấp được tài liệu chứng cứ liên quan đến hoạt động chuyển tiền, nhận tiền.
- Về nợ chung: Anh K và chị O không có nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim O.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Mai Văn K.
- Về con chung: Giao các con chung là cháu Mai Thiện B, sinh ngày 30/8/2010 và cháu Mai Duy K1, sinh ngày 01/02/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim O tiếp tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), ghi nhận việc anh Mai Văn K tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung 5.000.000 đồng/01 tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Mai Văn K hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tại Danh sách khách xuất nhập cảnh ngày 25/12/2023 trả lời công văn số 1764 ngày 06/12/2023 của Cục Q - Bộ C thể hiện: Anh Mai Văn K, sinh năm 1984; địa chỉ: Xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 21/12/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 22/12/2023 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Tại cuộc gọi trực tuyến kết nối với bị đơn và có lập biên bản ngày 22/12/2023, thông qua cuộc gọi trực tuyến bị đơn có ý kiến hiện nay đang lao động tự do tại Đài Loan và không có địa chỉ cụ thể. Bị đơn không thể về nước để tham gia giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Mai Văn K theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị O và anh K tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 do Ủy ban nhân dân xã X (nay là xã Đ) cấp ngày 06/01/2010 nên hôn nhân giữa chị O và anh K là hôn nhân hợp pháp. Chị O cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng về kinh tế, trong quan điểm dạy dỗ con cái, vợ chồng tranh cãi, mất tình cảm, khi mâu thuẫn chưa được giải quyết thì anh K đi nước ngoài nên vợ chồng càng xa cách. Trong những ngày anh K về nước nhưng vợ chồng vẫn tiếp tục mâu thuẫn. Chị O và anh K không liên lạc với nhau từ khi anh K trở lại lao động tại nước ngoài cho đến nay. Đối với yêu cầu ly hôn của chị O, anh K không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Chị O và anh K là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị O và anh K xảy ra mâu thuẫn từ lâu nhưng giữa chị O và anh K không thể hoà giải hàn gắn tình cảm với nhau. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị O được ly hôn với anh K.
[2.2] Về con chung: Chị O và anh K có 02 con chung là cháu Mai Thiện B, sinh ngày 30/8/2010 và cháu Mai Duy K1, sinh ngày 01/02/2015. Hiện nay 02 cháu đều đang sống với chị O và có nguyện vọng ở với mẹ; để đảm bảo cuộc sống ổn định cho 02 cháu cần giao cháu Mai Thiện B và Mai Duy K1 cho chị Nguyễn Thị Kim O tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K tự nguyện cấp dưỡng 02 con chung 5.000.000 đồng/02 con/tháng. Xét đề nghị cấp dưỡng của anh K là tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của anh K.
[2.3] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị O trình bày hiện nay vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh K đề nghị Toà án giải quyết nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh vợ chồng có tài sản chung nên Toà án không có căn cứ để xem xét giải quyết. Anh K có quyền khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung bằng một vụ án khác.
[2.4] Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh K phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điểu 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim O, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Mai Văn K.
2. Về con chung: Giao 02 cháu Mai Thiện B, sinh ngày 30/8/2010 và Mai Duy K1, sinh ngày 01/02/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/02 con/ tháng (mỗi cháu 2.500.000 đồng/01 tháng) của anh Mai Văn K.
Chị O và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chi O đã nộp theo biên lai số 0000727 ngày 05/12/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
Anh Mai Văn K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Đức Quang |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Oanh và anh Mai Văn Kiên quen biết nhau khi còn lao động tại Đài Loan, sau một thời gian yêu thương nhau thì quyết định tiến tới hôn nhân. Đầu năm 2009, chị Oanh về Việt Nam, anh Kiên vẫn ở lại Đài Loan, cuối năm 2009, anh Kiên về Việt Nam. Ngày 05/01/2010, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường (nay là xã Đan Trưởng), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sinh sống cùng bố mẹ chồng ở Xuân Trường
