Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Minh Tân;

Bà Đinh Thị Thanh Thủy;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hạ Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo: Cao Thị Bích T, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1985 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao C và bà Nguyễn Thị L; chồng: Không, con: 02 người con sinh năm 2009 và năm 2016; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 09/5/2023 bị Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPVPHC. Nhân thân: Ngày 03/6/2013, Cao Thị Bích T bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong; ngày 27/12/2013, Cao Thị Bích T bị Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2013/HSST; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/7/2014, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến ngày 06/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, bị cáo đang được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân P – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn T1 sinh năm 1972, địa chỉ: Đ, thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Trọng Hiếu S năm 1996, địa chỉ: Đ, thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Tấn D sinh năm 1993, địa chỉ: Đ, thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Thanh N sinh năm 1995, địa chỉ: Đ, thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, bị cáo Cao Thị Bích T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 76V1-9492 mang theo 01 bao tải màu vàng loại 50kg, 01 bao tải màu hồng loại 50kg và 02 túi nilon màu hồng đến địa bàn xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi với mục đích trộm cắp trái khổ qua của người dân trồng để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến cánh đồng Đ thuộc thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo phát hiện vườn khổ qua của ông Nguyễn T1 đang có trái nên nảy sinh ý định trộm cắp. T dựng xe mô tô bên đường rồi đi bộ vào vườn hái trộm tổng cộng 75 trái khổ qua, có tổng khối lượng 10 kg bỏ vào 01 túi nilon màu hồng và 01 bao tải màu hồng loại 50kg. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô chở bao tải chứa khổ qua tẩu thoát. Khi bị cáo đang đi trên đường, các ông Nguyễn Tấn D, ông Nguyễn Trọng H và ông Nguyễn Thanh N phát hiện, nghi ngờ bị cáo hái trộm trái khổ qua nên điều khiển xe đuổi theo. Khi bị cáo chạy đến đoạn đường DH530 thuộc thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi thì bị ông D, ông H và ông N giữ lại. Sau đó, ông D, ông H và ông N gọi điện thoại trình báo Công an xã T đến lập biên bản sự việc. Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTXTSTTHS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận như sau: Trị giá của 75 trái khổ qua có tổng trọng lượng 10kg tại thời điểm ngày 19/12/2023 là 80.000 đồng.

Cáo trạng số 68/CT-VKSTPQN ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Thị Bích T từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 76V1-9492 đề nghị tách ra khỏi vụ án để điều tra, làm rõ và đề nghị xử lý sau; tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu vàng loại 50kg; 01 bao tải màu hồng loại 50kg; 02 túi nilon màu hồng; đối với 75 trái khổ qua có tổng khối lượng 10kg, quá trình giải quyết đã trả lại cho bị hại ông Nguyễn T1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.

Ý kiến người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo thuộc hộ nghèo ở địa phương, đã thật sự ăn năn hối cải nên xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt bị hại ông Nguyễn T1 và những người làm chứng tại phiên tòa thì Cơ quan điều tra đã làm việc, có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điều 292, 293 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Cao Thị Bích T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Để có tiền sử dụng cá nhân nên ngày 19/12/2023 bị cáo T đã lén lút trộm cắp của bị hại 75 trái khổ qua (mướp đắng) có tổng trọng lượng 10kg trị giá 80.000 đồng. Trước đó vào ngày 09/5/2023 bị cáo bị Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPVPHC, chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 09/5/2023. Theo Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau: a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau: Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự “a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố các bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Tính chất, mức độ của hành vi: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 75 trái khổ qua có tổng khối lượng 10kg, quá trình giải quyết đã trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì (bút lục 135). Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 76V1-9492, nhãn hiệu: Majesty, màu sơn: xanh, số máy: VTT1P52FMH039843, số khung: VTTWCH022TT039843 (Đã qua sử dụng), đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q tiến hành xác minh thông tin chủ sở hữu là ông Ngô Gia L1 (sinh năm: 1938; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi), hiện nay ông L1 đã chết, bị cáo khai mua xe này vào năm 2019 từ ông Kiều Nhật T3 (sinh năm: 1982; nơi cư trú: Thôn E, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi), ông T3 khai mua lại xe này từ một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) vào năm 2014 vì vậy chưa xác định được nguồn gốc hợp pháp của xe. Do đó, không đủ căn cứ xác định nguồn gốc xe mô tô biển kiểm soát 76V1-9492, Cơ quan điều tra đề nghị tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh, xử lý sau tuy nhiên Cơ quan điều tra đã chuyển cho Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q ngày 15/5/2024 nên Cơ quan điều tra cần nhận lại để phục vụ việc điều tra, làm rõ, không xử lý trong vụ án này.

Đối với những vật chứng như: 01 bao tải màu vàng loại 50kg, 01 bao tải màu hồng loại 50kg và 02 túi nilon màu hồng được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký ghi họ tên ông Phạm Tấn B, bà Cao Thị Bích T, ông Đào Tấn V và đóng dấu giáp lai của Công an xã T thì tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì gì phần dân sự.

[9]. Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10]. Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

[11]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhưng bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí do thuộc hộ nghèo nên căn cứ Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326 của ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Cao Thị Bích T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Cao Thị Bích T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính bắt đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến ngày 06/5/2024.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Cao Thị Bích T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải màu vàng loại 50kg, 01 bao tải màu hồng loại 50kg và 02 túi nilon màu hồng được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký ghi họ tên ông Phạm Tấn B, bà Cao Thị Bích T, ông Đào Tấn V và đóng dấu giáp lai của Công an xã T có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

* Nơi nhận:

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND TP Quảng Ngãi;

- CQCSĐT CATP Quảng Ngãi;

- CATP Quảng Ngãi (Bộ phận lưu trữ, NV);

- CQTHAHS CATP Quảng Ngãi;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- Chi cục THADS TP Quảng Ngãi;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hô sơ, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Bích Th "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger