|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày 20-9-2024. V/v: Ly hôn giữa chị Cươi và anh Tiên. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Quàng Văn Mầng.
- Ông Lò Văn Khẹt.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10, ngày 20/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Quàng Thị C, sinh năm 1984.
- Bị đơn: Anh Quàng Văn T, sinh năm 1983.
Trú tại: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Trú tại: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/7/2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Quàng Thị C trình bày:
Chị và anh Quàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 09/11/2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung không hạnh phúc, đến cuối năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ nhiều năm hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Quàng Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Quàng Văn T.
Về con chung: Có hai con là Quàng Thị V, sinh ngày 03/10/2007, Quàng Minh Q, sinh ngày 04/9/2009. Chị nhất trí để con trai cho chồng nuôi, chị nuôi con gái và tùy vào nguyện vọng con ở với ai cũng được, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Quàng Văn T trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Quàng Thị C và anh Quàng Văn T. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị Quàng Thị C. Xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Có hai con là Quàng Thị V, sinh ngày 03/10/2007, Quàng Minh Q, sinh ngày 04/9/2009. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi con trai và để con gái cho chị Quàng Thị C nuôi, tùy vào nguyện vọng của con, anh không yêu cầu chị Quàng Thị C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ anh Quàng Văn T trình bày: Trước anh có cho chị Quàng Thị M ở bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Nay chuyển đi xuống Huyện Y, tỉnh Sơn La vay khoản tiền 16.000.000, đồng. Nay anh yêu cầu trả lại anh khoản tiền trên.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.
Về nội dung:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
Có căn cứ để xử cho chị Quàng Thị C được ly hôn anh Quàng Văn T.
Con C1: Giao cho chị Quàng Thị C trực tiếp nuôi con Quàng Thị V, sinh ngày 03/10/2007. Anh Quàng Văn T trực tiếp nuôi con Quàng Minh Q, sinh ngày 04/9/2009. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Quàng Thị C chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Quàng Văn T sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã khai trình bầy nguyện vọng, đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng và đã triệu tập xét xử hợp lệ, anh Quàng Văn T có đề nghị được xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt anh Quàng Văn T.
Nguyên đơn chị Quàng Thị C có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ theo quy định Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị C và anh Quàng Văn T có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai người bất đồng quan điểm sống. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.
Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Quàng Thị C và anh Quàng Văn T đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Quàng Thị C yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Quàng Thị C được ly hôn anh Quàng Văn T.
[3] Về con chung: Có hai con là Quàng Thị V, sinh ngày 03/10/2007 và Quàng Minh Q, sinh ngày 04/9/2009. Căn cứ vào nguyện vọng của con trai có nguyện vọng được ở với bố, con gái có nguyện vọng muốn ở với mẹ, nên cần chấp nhận giao cho anh Quàng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con Quàng M. Giao cho chị Quàng Thị C trực tiếp nuôi dưỡng con Quàng Thị V. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về tài sản chung, riêng: Đều yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Đối với yêu cầu của anh Quàng Văn T cho chị Quàng Thị M vay số tiền 16.000.000, đồng và yêu cầu trả cho anh. Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa và yêu cầu anh Quàng Văn Tiên cung c hợp đồng hoặc giấy tờ vay, địa chỉ của người vay, nhưng anh Quàng Văn T không cung cấp được. Do đó không có căn cứ để xem xét trong vụ án này. Nếu sau này anh Quàng Văn T xuất trình được tài liệu chứng cứ nêu trên thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác khi có đủ điều kiện.
Chị Quàng Thị C đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị Quàng Thị C chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
- Xử cho chị Quàng Thị C được ly hôn anh Quàng Văn T.
- Giao cho chị Quàng Thị C trực tiếp nuôi con Quàng Thị V, sinh ngày 03/10/2007. Anh Quàng Văn T trực tiếp nuôi con Quàng Minh Q, sinh ngày 04/9/2009. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Quàng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001684 ngày 30/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Chị Quàng Thị C, anh Quàng Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
4
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn giữa chị C và anh T
