Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83 / 2024 / HS-ST

Ngày 20 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang và bà Trần Thị Ánh Hằng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Văn H, sinh năm 2003, tại Campuchia; không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T (chết) và bà T1 (không rõ họ tên và năm sinh); không vợ con.

Tiền sự: không.

Tiền án: ngày 24/5/2022 Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 05 tháng tù, về tội “Cướp tài sản”, đến ngày 17/02/2024 chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.

Bị hại: Bà Đinh Thị T2, sinh năm 1992, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thúy Q, sinh năm 2003, nơi cư trú: khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Võ Văn S, sinh năm 1985 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 29/3/2024, Trương Văn H đi bộ đến khu dân cư T, thuộc tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến nhà Đinh Thị T2 nằm trên đường nội bộ khu dân cư, H phát hiện cửa sau nhà T2 không khóa nên H đột nhập vào nhà và đi đến phòng ngủ, H mở cửa phòng thì thấy chị T2 đang ngủ, bên cạnh T2 có 01 túi xách tay (bên trong có tiền Việt Nam 21.500.000 đồng; tiền ngoại tệ 250 USD, 170.000 Rieh cùng giấy tờ tùy thân) nên H lén lút lấy trộm túi xách mang ra bên hông nhà T2, H kiểm tra lấy tiền Việt Nam và ngoại tệ còn riêng túi xách và giấy tờ H bỏ lại. Sau đó, H lấy 6.300.000 đồng mua ma túy sử dụng và chơi game bắn cá thua hết, còn lại 1.101.000 đồng Hào cất trong người. Riêng chị T2 sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã cùng với Võ Văn S (người quen với chị T2) xem lại camera thì S xác định H là người đã lấy trộm tài sản nên đã đi tìm H, còn chị T2 đến Công an phường B trình báo. Đến khoảng 12 giờ ngày 30/03/2024, S phát hiện H đang đi ở khu vực Bến xe C nên S chặn hỏi H về việc lấy trộm tài sản nhà chị T2 thì H thừa nhận là người đã lấy trộm tài sản trên.

Vật chứng thu giữ: 01 túi xách nhãn hiệu BAILINNIAO, bằng da, màu nâu - đen; 01 căn cước công dân và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Thị T2 (đã trao trả cho bị hại Đinh Thị T2); 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Trương Văn H thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của Đinh Thị T2.

Tại kết luận định giá tài sản số 1185/KL-ĐG ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 túi xách có dây đeo bằng da, màu nâu đen, nhãn hiệu BAILINNIAO, trị giá 50.000 đồng; Ngoại tệ Đô la Mỹ: 250 USD, trị giá 6.000.750 đồng; Ngoại tệ Campuchia: 170.000 Rieh, trị giá 1.062.500 đồng; 01 mặt dây chuyền vàng 18 kara, trọng lượng 08 phân, hình chữ ST, trị giá 4.055.200 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Thị T2 yêu cầu bị cáo Trương Văn H bồi thường thiệt hại tài sản đã lấy trộm, tổng số tiền 28.613.250 đồng và T2 trình bày còn mất trộm 01 mặt dây chuyền vàng 18 kara, trọng lượng 08 phân, hình chữ ST; yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 01/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C đã khởi tố vụ án, khởi tố bị cao đối với Trương Văn H về hành vi "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Cáo trạng số 64/CT-VKSCĐ-HS ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn H thừa nhận hành vi lấy trộm tiền Việt Nam và tiền ngoại tệ, không thừa nhận lấy trộm mặt dây chuyền vàng.

Bị hại Đinh Thị T2 yêu cầu bồi thường số tiền 28.613.250 đồng và 01 mặt dây chuyền vàng 18 kara, trọng lượng 08 phân, hình chữ ST, yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.

3

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Thúy Q; người làm chứng Võ Văn S vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, khẳng định Cáo trạng số 64/CT-VKSCĐ ngày 24/7/2024 của VKSND thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Trương Văn H theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên chúng tôi giữ nguyên quan điểm truy tố.

Đề nghị xử lý

a) Về trách nhiệm hình sự

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

b) Biện pháp tư pháp:

  • - Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Trương Văn H thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của Đinh Thị T2.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586, 589 BLDS, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại 28.613.250 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại (T2), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Q) và người làm chứng (Võ Văn S) vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

4

[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 29/3/2024, tại khu vực tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Trương Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Đinh Thị T2 tổng số tiền 28.613.250 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu của công dân. Do đó, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[4] Quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân đều được pháp luật nghiêm trị. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Do đó, cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian nhất định để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án (ngày 24/5/2022 Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 05 tháng tù, về tội “Cướp tài sản”), chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường tài sản mà bị cáo đã lấy trộm là 28.613.250 đồng . Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với kết luận định giá và chấp nhận bồi thường. Do đó, buộc bị cáo H có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 28.613.250 đồng.

5

Việc bị hại Đinh Thị T2 khai ngoài mất trộm tiền Việt Nam và tiền ngoại tệ, còn mất trộm 01 mặt dây chuyền vàng; Trương Văn H không thừa nhận; ngoài lời khai của T2 thì không còn chứng cứ khác. Do đó, không có căn cứ buộc bị cáo Trương Văn H bồi thường cho bị hại mặt dây chuyền vàng.

[8] Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi lại diễn biến Trương Văn H lấy trộm tài sản của Đinh thị Tiến.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

[10] Về các vấn đề khác:

Lê Trọng N và Ngô Phước T3 mua ma túy và sử dụng chung với Trương Văn H. Do chưa xác nhận được nhân thân thân lai lịch, chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn H 02 (hai) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2024 (ngày một, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đĩa DVD ghi lại diễn biến Trương Văn H lấy trộm tài sản của Đinh thị Tiến.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự 2015;

Buộc bị cáo Trương Văn H có trách nhiệm trả cho bà Đinh Thị T2 số tiền 28.613.250 đồng (hai mươi tám triệu, sáu trăm mười ba ngàn, hai trăm năm mươi) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn

6

phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.430.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20.8.2024), bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL-NV liên quan
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83 / 2024 / HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 83 / 2024 / HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger