Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGÃ NĂM

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST

Ngày 18 – 8 – 2023

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tân.

2. Bà Lê Thị Thúy Kiều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1987; địa chỉ: Số D Đường H, Khóm A, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Liên hệ: Số A Đường C, Khóm A, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số D Đường H, Khóm A, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Nguyễn Ngọc Q trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Võ Thanh T có tổ chức lễ cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06-8-2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N (nay là Phường A, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu khi mới về sống chung với nhau thì vợ chồng hạnh phúc. Về sau, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2022. Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Ngọc Q và ông Võ Thanh T có 02 con chung là Võ Trí K, sinh ngày 25-01-2004 và Võ Trí N, sinh ngày 09-02-2008. Hiện nay anh K đã thành niên và cháu N đang sống chung với bà Nguyễn Ngọc Q.

Bà Nguyễn Ngọc Q yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Võ Thanh T;
  • Về con chung: Yêu cầu giao con chung là Võ Trí N, sinh ngày 09-02-2008 cho bà Nguyễn Ngọc Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Võ Thanh T phải cấp dưỡng cho con.
  • Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn: Các bên tự thỏa thuận, bà Q không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Ý kiến của các bị đơn ông Võ Thanh T:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, phía bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 19-6-2023, cháu Võ Trí N trình bày: Cháu đang sống chung với mẹ là Nguyễn Ngọc Q tại số A Đường C, Khóm A, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Cháu biết việc cha mẹ ly hôn với nhau cho nên cháu có nguyện vọng tiếp tục sống chung với mẹ. Đây là nguyện vọng của riêng cháu, không có ai lừa dối hay ép buộc.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn, giao con chung là Võ Trí N cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được phép cản trở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; yêu cầu giao con chung chưa thành niên cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng và bị đơn không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng sau khi ly hôn, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật giải quyết về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.

[3] Về quan hệ hôn nhân, nguyên đơn Nguyễn Ngọc Q và bị đơn Võ Thanh T đã tự nguyện kết hôn và được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân của họ là hôn nhân hợp pháp. Do cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn với nhau, đã hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Mặc dù chưa có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho ly hôn nhưng trên thực tế mỗi người đã ở một nơi và đều ổn định cuộc sống riêng của mình. Điều này cho thấy tình nghĩa vợ chồng đã không còn do họ không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay một bên khởi kiện yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử giải quyết cho họ được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Bà Q và ông T có 02 con chung, nay Võ Trí K đã thành niên, còn Võ Trí N đang sống chung với mẹ và sau khi cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng tiếp tục sống chung với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu N đang được bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, tình cảm gắn bó với nguyên đơn, điều kiện sống ổn định nên việc giao cháu N cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 81và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Võ Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[6] Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng khi ly hôn: Các bên tự thỏa thuận, không ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[7] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc Q.
    • - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Võ Thanh T được ly hôn.
    • - Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cháu Võ Trí N, sinh ngày 09-02-2008 cho bà Nguyễn Ngọc Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Võ Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
    • - Về cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ, chồng khi ly hôn: Các đương sự đều thống nhất không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009290 ngày 13-6-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Ngã Năm;
  • - UBND Phường 1, thị xã Ngã Năm;
  • - Chi cục THADS thị xã Ngã Năm;
  • - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 83/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Võ Thanh T có tổ chức lễ cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06-8-2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N (nay là Phường A, thị xã N), tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu khi mới về sống chung với nhau thì vợ chồng hạnh phúc. Về sau, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2022.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger