Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 18-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Quản Giang Thao - Phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo TX Nghi Sơn.
  2. Ông Nguyễn Văn Hải - Chủ tịch Hội Nông dân phường Bình Minh.

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 04/6/2024 đối với bị cáo:

Lê Quốc Đ - Sinh ngày 25/9/2006 tại xã T, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi thường trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Ngọc Đ1 và bà Tống Thị T. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 05/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Tống Thị T, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (mẹ đẻ của bị cáo) (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thùy L - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt).

- Bị hại: Ông Lương Đức S, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng: Anh Lương Đức T1, sinh năm 2008 (vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Đức S, SN 1969 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Quốc Đ, sinh năm 2006, trú tại thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, Đ từ nhà đi bộ ra nhà văn hóa thôn X, xã T, thị xã N, trèo qua tường rào nhà văn hóa đột nhập nhà anh Lương Đức S ở cùng thôn để trộm cắp tài sản. Do Đ hay đến nhà anh S chơi điện tử cùng với con trai anh S là Lương Đức T1 bằng chiếc điện thoại Iphone 11 Promax của anh S và biết mật khẩu của điện thoại, nên Đ đi thẳng vào phòng ngủ thứ hai của gia đình anh S tìm kiếm và lấy trộm được chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax đang sạc pin ở dưới chân giường. Sau khi lấy trộm được điện thoại Đ thoát ra ngoài theo lối cũ và đi về nhà, trên đường về Đ tắt nguồn điện thoại. Về đến nhà, lúc này khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, Đ vào phòng của mình mở nguồn điện thoại, nhập mật khẩu (mã pin) là 123789, rồi khởi động lại máy và xóa hết dữ liệu trong máy, đồng thời cài đặt lại mật khẩu (mã pin) của máy là 258036. Sau đó, Đ tắt nguồn điện thoại, rồi cho vào túi nilon màu hồng đem lên bể nước sinh hoạt của gia đình cất giấu.

Quá trình xác minh, Công an xã T đã triệu tập Lê Quốc Đ đến làm việc. Tại đây Đ đã khai nhận hành vi phạm tội mà bản thân đã thực hiện, đồng thời tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại trộm cắp của anh Lương Đức S nêu trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 25/KL- HĐĐGTS ngày 04/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N, kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh, số máy MWFD2LL/A, loại 64 GB đã qua sử dụng, có giá trị còn lại tại thời điểm ngày 03/4/2024 là 6.500.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax, màu xanh, số máy MWFD2LL/A, loại 64 GB đã qua sử dụng do Lê Quốc Đ giao nộp.

Sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thaoij nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lương Đức S (BL số 58).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lương Đức S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKSNS ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

2

Đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Đại diện hợp pháp cho bị cáo và người bào chữa cho bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, Lê Quốc Đ đã lén lút đột nhập vào nhà của anh Lương Đức S ở thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp của anh S 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, trị giá 6.500.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Của cải vật chất là do con người làm lụng vất vả mới có được, bị cáo lợi dụng lúc trời còn tối, mọi người đang ngủ để trèo tường vào nhà người khác để trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này, cần xét bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng các quy định, nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Dựa trên cơ sở phân tích về tâm lý của người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm, kỹ năng sống. Đây là độ tuổi phát triển nhanh chóng về thể chất nhưng có nhiều bất ổn về tâm sinh lý, chưa đủ nhận thức hết được nguy hiểm của hành vi phạm tội. Hình phạt dành cho người chưa thành niên chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là học sinh, không có thu nhập, sống phụ thuộc gia đình nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lương Đức S đã nhận lại được tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu gì nên hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điều 6; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã T, thị xã N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92; Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự. Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS TX Nghi Sơn;
  • - Công an thị xã nghi Sơn;
  • - UBND xã Thanh Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

5

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quản Giang Thao                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, Lê Quốc Đ đã lén lút đột nhập vào nhà của anh Lương Đức S ở thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp của anh S 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, trị giá 6.500.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger