|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 17 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Mỹ Linh
2. Ông Nguyễn Minh Mẫn
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, tên gọi khác: Không, giới tính: N, sinh năm 1968; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, nơi ở hiện nay: Khóm A, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Văn P (đã chết), con bà: Trương Thị K (đã chết); vợ: Nguyễn Thị P1 (đã ly hôn) con: 02 người; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 69/2020/QĐ-TA ngày 31/3/2020 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của TAND thành phố Cà Mau đối với Trần Văn T, thời gian chấp hành là 15 tháng, chấp hành xong ngày 26/02/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ 15 phút ngày 26/12/2023 Lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố C, tỉnh Cà Mau kết hợp với Công an phường H, thành phố C bắt quả tang Trần Văn T tàng trữ trái phép chất ma tuý tại khóm B, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Tang vật thu giữ: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong là 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng rắn được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.91/2023.
Theo biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma tuý, lúc 09 giờ 55 ngày 26/12/2023 kết quả T có sử dụng ma túy.
Tại Bản kết luận số 629/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C xác định: Chất bột màu trắng, dạng rắn bên trong gói giấy bạc màu trắng, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.91/2023 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1647 gam, loại Heroin.
Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 08 giờ ngày 26/12/2023 T đi bộ từ nhà trọ tại khóm A, phường H, thành phố C đến hẻm B (Xóm K) trên đường C thuộc khóm B, phường H, thành phố C để mua ma tuý. Sau khi vào hẻm khoảng 20 mét, T gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch) và nói “Bán cho tôi một cái đồ” và đưa cho người phụ nữ 100.000đ. Người phụ nữ đưa cho T 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong là gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa ma tuý. Sau khi lấy ma tuý, T cầm trong lòng bàn tay trái và đi ra đầu hẻm về phòng trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với 01 phong bì sau khi trích giám định hoàn lại; Về trách nhiệm dân sự: Không có.
- Ý kiến của bị cáo T: Bị cáo thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra là do tự nguyện khai, không bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên. Đồng thời, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố không oan sai, đúng với hành vi của bị cáo, bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên có cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 26/12/2023 ở tại khóm B, phường H, thành phố C, Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1647 gam ma túy loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Cáo trạng nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi tác hại của ma tuý gây ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật truyền nhiễm, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Đặc biệt loại tội phạm này hiện ngày càng gia tăng, mức độ thực hiện tinh vi, việc phòng chống gặp rất nhiều khó khăn nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cho xã hội và để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân chưa tốt.
Với đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở nên được xem xét chấp nhận.
[4] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số 629/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C cần tịch thu tiêu huỷ như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[5] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, chưa thể tiến hành làm việc được nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau là có cơ sở.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 629/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Xuyên |
4
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
