TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số 83/2024/HSST Ngày 17/5/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Anh Dũng
2. Ông Huỳnh Quốc Bình
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đinh Thị Ly L
- Sinh năm 1997; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: thôn Đ, xã N, huyện T, TP Hà Nội; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố Đoàn Sỹ H (Đã chết); Họ và tên mẹ Nguyễn Thị P sinh năm 1973: Gia đình bị cáo có 02 chị em, Bị cáo là con thứ nhất; Chồng Hoàng Xuân T sinh năm 1986; Bị cáo có 01 con sinh 19/9/2023; Theo danh chỉ bản số 27 lập ngày 16/01/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 12/6/2020, bị Công an huyện Q, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt 750.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt xong ngày 17/8/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 đến ngày 17/1/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
2. Trần Phi A
- Sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Thôn Q, xã X, huyện X, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố Hà Khắc V (Đã chết); H1 và tên mẹ Trần Thị T1 (Đã chết): Bị cáo là con duy nhất; Theo danh chỉ bản số 38 lập ngày 16/01/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam số 2 – Công an TP Hà Nội. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 07/01/2024, L đi bộ đến đoạn cống chui thuộc thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội tìm mua ma tuý “kẹo” và “ke” để bán lại kiếm lời. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 chỉ ma tuý “ke” và 03 viên ma tuý “kẹo” được bọc trong giấy màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu đen với giá 2.400.000 đồng. Mua xong, L cất số ma tuý này vào trong túi áo khoác rồi đi về. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, đối tượng “Hiền Cò” sử dụng số điện thoại 0827.458.xxx gọi đến số thuê bao 0976877592 của L nhờ L mua hộ 02 chỉ ma tuý “ke” và 03 viên “kẹo”. L nói đang có sẵn 01 chỉ ma tuý ke và 03 viên ma tuý kẹo, nếu “Hiền Cò” mua thì L bán với giá 2.750.000 đồng. “Hiền Cò” đồng ý và bảo L mang ma tuý đến giao tại ngõ 1, thôn Y, xã N, huyện T, Hà Nội. Khoảng 02 phút sau, “Hiền Cò” tiếp tục sử dụng số thuê bao 0567327969 gọi cho L và bảo L khi nào mang ma tuý đến thì gọi cho “Hiền Cò” theo số thuê bao này. Sau đó, L nhắn tin, gọi điện qua ứng dụng telegram cho Trần Phi A (là bạn bè quen biết xã hội của L) và bảo Phi A đến đón L đi bán ma tuý cho khách, L sẽ trả công cho Phi A số tiền 100.000 đồng. Phi A đồng ý và điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29M1-618.65 đến Đội 6, xã N, huyện T, Hà Nội đón và chở L đi đến ngõ 1, thôn Y, xã N, huyện T, Hà Nội để bán ma tuý cho “Hiền Cò”.Hồi 23 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, tổ công tác Công an xã L – Công an huyện T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực thôn Y, xã N, huyện T, Hà Nội phát hiện Trần Phi A đang điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29M1-618.65 sau xe chở Đinh Thị Ly L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thấy lực lượng Công an, L thả 01 gói giấy màu trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen đang cầm trong lòng bàn tay phải xuống đất gần chỗ L đứng thì bị tổ công tác phát hiện và yêu cầu L nhặt gói giấy lên giao nộp. Tại chỗ, L và Phi A đều khai nhận gói giấy màu trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen là ma tuý kẹo, ke của L, các đối tượng đang mang đi bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện nên tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa L cùng Phi A về trụ sở giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Trần Phi A 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29M1-618.65 màu đen bạc, 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu gold; tạm giữ của Đinh Thị Ly L 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím. Ngày 08/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma tuý đã thu giữ của Đinh Thị Ly L. Tại bản Kết luận giám định số 486/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng KTHS – Công an thành phố Hà Nội kết luận: 01 gói giấy màu trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen bên trong có:- 03 viên nén hình bầu dục màu trắng đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng 1,113 gam.- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma tuý loại Ketamine, khối lượng 1,332 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng 0,357 gam MDMA trong tổng số 1,113 gam; sử dụng 0,043 gam Ketamine trong tổng số 1,332 gam đã thu giữ của Đinh Thị Ly L để làm mẫu giám định, còn lại 0,756 gam MDMA và 1,289 gam Ketamine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T.
Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Đinh Thị Ly L và Trần Phi A, kết quả: Đinh Thị Ly L dương tính với chất ma tuý, Trần Phi A âm tính với chất ma tuý.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận như bản cáo trạng đã công bố: Vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, tại khu vực thôn Y, xã N, huyện T, Hà Nội, khi L và Phi A đang cất giấu 01 gói giấy trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong chứa 1,113 gam ma tuý MDMA và 1,332 gam ma tuý Ketamin để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã L – Công an huyện T phát hiện và bắt giữ.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 82/CT-VKSTT ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Đinh Thị Ly L và Trần Phi A về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 ( L là lao động chính trong gia đình, Phi A phạm tội lần đầu) Điều 51; Điều 17, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 BLTTHS 2015.
Về hình phạt:
Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Thị Ly L mức án từ 42 tháng đến 46 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Phi A mức án từ 38 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/01/2024.
Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo không có việc làm thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Cho tiêu hủy số ma túy là heroin thu giữ của các bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho L, do L không biết rõ tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng tên “Hiền Cò” là người hỏi mua ma tuý của L, L khai chỉ quen biết người này qua mạng xã hội, không biết tên tuổi, địa chỉ cũng như chưa từng gặp mặt người này. Cơ quan Điều tra đã tiến hành các nghiệm vụ không làm rõ được người này. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29M1-618.65, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Thị Hương Q (SN: 1998; HKTT: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội). Chị Q cho Trần Phi A mượn xe nhưng không biết Phi A sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 29/03/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trao trả cho chị Q chiếc xe này. Chị Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max màu gold là tài sản của Trần Phi A và 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím là tài sản của Đinh Thị Ly L đều được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma tuý nên đề nghị sung vào ngân sách nhà nước.
Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, khi L và Phi A đang cất giấu 01 gói giấy trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong chứa 1,113 gam ma tuý MDMA và 1,332 gam ma tuý Ketamin để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã L – Công an huyện T phát hiện và bắt giữ. Hành vi tàng trữ ma túy của các bị cáo nhắm mua bán để kiếm đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo L là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi do đó HĐXX cho bị cáo L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo L đã từng bị xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đến nay tuy hết thời hiệu nhưng vẫn coi bị cáo là người có nhân thân xấu.
Các bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm giản đơn, L có vai trò chính trong việc mua bán ma túy, Phi A với vai trò giúp sức tích cực biết hành vi phạm tôi của L2 nhưng vẫn giúp để nhận được lợi ích là tiền công L trả cho Phi A. Do đó khi xem xét HĐXX sẽ xử lý L mức án cao hơn Phi A. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, HĐXX thấy cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
[5] Về xử lý vật chứng:
Cho tiêu hủy số ma túy còn lại 0,756 gam MDMA và 1,289 gam Ketamine sau khi trừ lấy mẫu giám định, đây là vật nhà nước cấm lưu hành.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max màu gold của Trần Phi A và 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím của L, đây là tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cho sung vào ngân sách nhà nước là có căn cứ.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho L, do L không biết rõ tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng tên “Hiền Cò” là người hỏi mua ma tuý của L, L khai chỉ quen biết người này qua mạng xã hội, không biết tên tuổi, địa chỉ cũng như chưa từng gặp mặt người này. Cơ quan Điều tra đã tiến hành các nghiệm vụ không làm rõ được người này, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29M1-618.65, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Thị Hương Q (SN: 1998; HKTT: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội). Chị Q cho Trần Phi A mượn xe nhưng không biết Phi A sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 29/03/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trao trả cho chị Q chiếc xe này là có căn cứ.
Các đề nghị của đại diện VKS về xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với L) Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Ly L và Trần Phi A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đinh Thị Ly L 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 17/01/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Phi A 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo
- Về vật chứng:
Cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T2, cán bộ công an huyện T ông Bùi Phương N và Đinh Thị Ly L (Theo quy định chuyển vật chứng của VKS nhân dân huyện T bên trong có 1,289 gam ma túy Ketamine và 0,756 gam ma túy MDMA còn lại sau giám định).
Sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng bên trong gắn sim số 0971351725 và 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím bên trong có gắn sim số 0976877592.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì)
- Về án phí và Quyền kháng cáo:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Hồng Tuấn |
Bản án số 83/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 83/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
