Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 9 năm 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Ngọc Quế;
  2. Bà Cù Thị Ngọc Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng. (vắng mặt, có đơn xin vắng)

- Bị đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt, có đơn xin vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà và ông Phan Văn L do tự tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, chung sống từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã T. Thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân từ việc cả hai không hòa hợp tính tình, thường cự cãi nhau. Ông L không lo làm ăn, tụ tập ăn chơi, không quan tâm vợ con, thường xuyên hành hung, dùng dao đe dọa tính mạng. Mâu thuẫn từ đó mà ngày càng trầm trọng hơn. Tình vợ chồng đã thật sự trầm trọng nên không còn

chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay, cả hai đều thống nhất xin được ly hôn nhau. Yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn L.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Bảo N, sinh ngày 13/9/2016 và Phan Bảo L1, sinh ngày 13/01/2020, hiện đang sống cùng bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Phan Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông và bà Cao Thị T do tự tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, chung sống từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã T. Thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân từ việc cả hai không hòa hợp tính tình, thường cự cãi nhau, ông có sử dụng ma túy nên nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nên từ đó mà vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn thật sự trầm trọng nên không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay, ông L đồng ý ly hôn với bà Cao Thị T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Bảo N, sinh ngày 13/9/2016 và Phan Bảo L1, sinh ngày 13/01/2020, hiện đang sống cùng bà T. Sau khi ly hôn, ông L đồng ý để bà T được nuôi hai con chung, ông L không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tòa án tiến hành hòa giải, công khai tài liệu, chứng cứ để hàn gắn tình cảm nhưng bà T không đồng ý, giữ yêu cầu xin được ly hôn; ông Phan Văn L vắng mặt, đồng ý ly hôn và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên xử công nhận bà Cao Thị T và ông Phan Văn L thuận tình ly hôn; giao con chung là cháu Phan Bảo N, sinh ngày 13/9/2016 và Phan Bảo L1, sinh ngày 13/01/2020 cho bà T nuôi dạy, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Bà Cao Thị T, ông Phan Văn L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Cao Thị T khởi kiện xin được ly hôn với ông Phan Văn L, nơi cư trú tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Cao Thị T, ông Phan Văn L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hôn nhân giữa bà Cao Thị T và ông Phan Văn L do tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2000 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, xuất phát từ việc ông L nhiều lần sử dụng ma túy, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Bà T khuyên ngăn nhưng không được từ đó mà phát sinh mâu thuẫn.

Ông L có bản tự khai xác định mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc ông thường xuyên sử dụng ma túy, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, vợ chồng không còn chung sống với nhau đã lâu và đồng ý ly hôn với bà Cao Thị T.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà T, ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Phan Bảo N, sinh ngày 13/9/2016 và Phan Bảo L1, sinh ngày 13/01/2020, hiện đang sống cùng bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ lúc phát sinh mâu thuẫn bà T vẫn chăm sóc nuôi dạy cháu N, cháu L1. Nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, sự phát triển bình thường của các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con chung sau khi ly hôn của bà T.

Công nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên

không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Cao Thị T, ông Phan Văn L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Cao Thị T và ông Phan Văn L.

- Về con chung: Bà Cao Thị T được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Phan Bảo N, sinh ngày 13/9/2016 và Phan Bảo L1, sinh ngày 13/01/2020.

Công nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Bà Cao Thị T phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007922 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu. Bà T được nhận lại 150.000 đồng còn lại. Ông Phan Văn L phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bà Cao Thị T, ông Phan Văn L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tx.Tân Châu;
  • - Chi cục THADS Tx.Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã đăng ký kết hôn (nếu có);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ CAO THỊ T LY HÔN ÔNG PHAN VĂN LONG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger