TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI Bản án số: 83/2024/HSST Ngày: 16/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
- Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
- Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Minh, ông Trần Minh Đức và ông Lê Quốc Ngưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Vũ Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Â, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2005 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ơ và bà T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú ngày 20/02/2024 và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh G. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Văn K – Luật sư, trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.
- Bị hại: Anh M, sinh năm 1987; địa chỉ: Làng R, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Đã chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà M1, sinh năm 1951; địa chỉ: Làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại: Bà Trang Thị Thùy D - Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ơ, sinh năm 1980 và chị T, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: Làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Đều có mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh M2, sinh năm 1989; địa chỉ: Làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Chị J, sinh năm 1995; địa chỉ: Làng K, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Ông B, sinh năm 1973; địa chỉ: Làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Bà N, sinh năm 1978; địa chỉ: Làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh Q, sinh năm 1982; địa chỉ: Làng K, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh I, sinh năm 2003; địa chỉ: Làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Bà N1, sinh năm 1969; địa chỉ: Làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
* Người phiên dịch: Bà Nay H, công tác tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/02/2024,  đến nhà của bà N1 (sinh năm 1969; trú tại làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai) để dự đám cưới của con trai bà N1. Tại đây, có M (sinh năm 1987; trú tại làng R, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai); anh Q (sinh năm 1982), chị J1 (sinh năm 1995), chị D1 (sinh năm 1983) cùng trú tại làng K, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai; ông B (sinh năm 1973; trú tại làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai) và một số người khác cùng tham dự. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, chị J1, anh Q và chị D1 đi về, khi ra đến cổng nhà bà N1, ông B thấy chị J1, anh Q và chị D1 là người ở làng khác nên đi đến bắt tay và đứng nói chuyện với anh Q. M cũng đi đến bắt tay và đứng nói chuyện với chị J1. Lúc này,  đang ngồi uống rượu trong phòng bếp nhà bà N1 nhìn ra thấy anh M đứng nói chuyện với chị J1 ở ngoài sân nhà bà N1.  nhớ lại việc mọi người kể trước đây M đánh cha và ông nội của  nên  nảy sinh ý định đánh M để trả thù.  đi theo hướng cửa chính phòng bếp ra phía sau nhà bà N1 đến chỗ đống cây bạch đàn lấy một khúc cây bạch đàn kích thước 90cm, đầu to đường kính 5cm, đầu nhỏ đường kính 4cm.  cầm khúc cây bạch đàn đi đến phía sau lưng M, dùng hai tay cầm khúc cây bạch đàn đánh vào vùng đầu của M theo hướng từ trên xuống dưới gây thương tích ở vùng đầu bên trái của anh M làm anh M ngã gục xuống đất. Sau khi đánh anh M,  vứt khúc cây bạch đàn gần chỗ M đang nằm và dùng chân đá khúc cây về phía hàng rào nhà bà N1 rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà.
Hậu quả: Mlinh bị chấn thương sọ não, được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh G. Đến ngày 01/3/2024, anh M chết.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 115A ngày 19/3/2024, Bệnh viện đa khoa tỉnh G chứng nhận anh M có các thương tích:
Chụp CT.Scanner sọ não kết luận: Xuất huyết khoang dưới nhện + tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương phải. Phù mô mềm vùng chẩm trái.
Chẩn đoán lúc vào viện: Chấn thương sọ não.
Chẩn đoán lúc ra viện: Chấn thương sợ não/ Viêm màng não mủ.
Nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường vụ án xảy ra tại sân nhà bà N1 thuộc làng R, xã L, huyện M.
Vị trí gần cổng ra vào hướng Tây, cách mép đường bê tông ở hướng Tây 5,5m; cách đường bê tông ở hướng Nam 18,86m; cách góc nhà bà N1 12,65m là vị trí Â dùng cây đánh gây thương tích cho M. Vị trí (1).
Cách vị trí (1) 4,8m về hướng Bắc là vị trí khúc cây gỗ Â dùng để đánh M. Vị trí (2). Khúc cây gỗ là loại cây bạch đàn, đã khô, cong có chiều dài 0,9m đường kính 5cm, đầu nhỏ đường kính 4cm. Kiểm tra không phát hiện dấu vết.
Ngày 01/3/2024, nhận tin báo anh M đã chết Cơ quan CSĐT Công an huyện M trưng cầu giám định nguyên nhân chết của anh M.
Tại Kết luận giám định tử thi số 288/KLGĐTT-KTHS ngày 19/3/2024, Phòng K1 Công an tỉnh G, kết luận:
Kết quả chính: Vùng đầu mô cơ dưới da vùng thái dương, chẩm trái bầm tụ máu; nứt xương sọ vùng chẩm kích thước (5 x 0,1)cm; tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải khoảng 150g máu đông cục; xuất huyết dưới nhện thùy đỉnh trái; dập não thùy chẩm phải, có dấu hiệu tụt kẹt hạnh nhân tiểu não.
Kết luận: Nguyên nhân chết của anh M do Chấn thương sọ não.
Vật chứng vụ án: Quá trình khám nghiệm hiện trường vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Gia Lai đã thu giữ:
01 (Một) cây gỗ đã khô, 2 đầu bị chặt nham nhở, dài 90cm, đường kính lớn nhất 5cm, đường kính nhỏ nhất 4cm.
Về dân sự: Bị can  đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại M số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Sau khi nhận được bồi thường gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm về phần dân sự.
Tại Cáo trạng số 104/CT-VKS-P2 ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo  về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
- - Đại diện hợp pháp của bị hại bà M1 trình bày: Nhất trí như nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 80.000.000 đồng và bà không yêu cầu gì thêm. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo theo quy định.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ơ và chị T trình bày: Anh chị là cha, mẹ của bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng và anh chị không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường.
- - Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo  phạm tội “Giết người”;
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo  mức án từ 16 năm đến 17 năm tù.
Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 cây gỗ đã khô, 2 đầu bị chặt nham nhở, dài 90cm, đường kính lớn nhất 5cm, đường kính nhỏ nhất 4cm.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- - Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia lai truy tố đối với bị cáo. Sau phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật hạn chế; tác động gia đình bồi thường 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại; có bà ngoại là người có công với cách mạng. Mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá cao. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- - Bị cáo có ý kiến tranh luận đồng ý với quan điểm của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại có quan điểm: Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính côn đồ, gây thiệt hại tính mạng người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 để giảm nhẹ hình phạt. Cần xử lý nghiêm để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Về dân sự đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- - Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều ra, truy tố các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội, bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 17/02/2024, tại nhà bà N1 thuộc làng R, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai do nhớ lại trước đây M đánh cha và ông nội của bị cáo nên bị cáo đã dùng khúc cây gỗ đã khô (loại cây gỗ bạch đàn) dài 90cm, đường kính lớn 5cm, đường kính nhỏ 4cm bất ngờ đánh từ phía sau trúng vào vùng đầu bên trái của M.
Sau khi bị đánh gây thương tích nặng, anh M được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh G, đến ngày 01/3/2024 anh M chết do chấn thương sọ não.
Tại Kết luận giám định tử thi số 288/KLGĐTT-KTHS ngày 19/3/2024, Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận: Nguyên nhân chết của anh M do Chấn thương sọ não.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai đã truy tố.
[3] Về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội:
Đây là vụ án bị cáo phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo có hành vi côn đồ dùng cây gỗ dài 90cm, đường kính lớn 5cm, đường kính nhỏ 4cm bất ngờ đánh từ phía sau trúng vào vùng đầu bên trái của M, gây chấn thương sọ não dẫn đến tử vong, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng;
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 80.000.000 đồng; có bà ngoại là người có công với cách mạng được Hội đồng Nhà nước tặng 02 Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó, áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, nên cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tù nghiêm khắc để răn đe, cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây gỗ đã khô, 2 đầu bị chặt nham nhở, dài 90cm, đường kính lớn nhất 5cm, đường kính nhỏ nhất 4cm.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo  phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo  16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây gỗ dài 90cm, đường kính lớn nhất 5cm, đường kính nhỏ nhất 4cm.
Vật trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 126/2024 lập ngày 11/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo  phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Sinh |
Bản án số 83/2024/HSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vụ án hình sự giết người
- Số bản án: 83/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo  16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.
