Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 83/2024/HSST
Ngày: 16/7/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nhiến và bà Ngô Thị Như Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hoà – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75 /2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn T, sinh ngày 21/12/1961 tại Phú Thọ; Nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn K, con bà Tống Thị L (đều đã chết); có vợ là Đinh Thị Kim T1 và 02 con (đều đã trưởng thành).

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/11/2023 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.

2. Bùi Văn Đ, sinh ngày 17/6/1989 tại Hoà Bình; Nơi cư trú: Xóm C, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Văn Ặ(đã chết), con bà Bùi Thị G; có vợ là Nguyễn Thị T2 (đã ly hôn) và 01 con (7 tuổi).

Tiền án: Không;

Có 02 tiền sự: ngày 07/7/2023 bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; ngày 13/10/2023 bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Nhân thân: Ngày 14/8/2009 bị xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố H. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Nguyễn Thị Thu T3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lê Thế T4, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu T, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Lương Văn Q, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
  2. Phạm Ngọc H, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn T và Bùi Văn Đ đều là đối tượng nghiện chất ma tuý, có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng đầu tháng 11/2023, T đã bàn bạc, thống nhất với Đ về việc Đ đi bán ma tuý cho T và được T trả công bằng cách cho sử dụng ma tuý và cho ăn uống hàng ngày.

Khoảng 01 giờ, ngày 20/11/2023, Vũ Văn T điện thoại từ số thuê bao 0977055825 đến số thuê bao 0365271973 của Lê Thế T4 mục đích hỏi mua ma tuý và được người nay đồng ý. Sau đó Vũ Văn T đi đến ngõ T, phường P thì gặp một người đàn ông và được người này đưa cho 01 gói ma tuý và 01 viên hồng phiến, T trả cho người này 3.700.000 đồng. Có được ma tuý, Vũ Văn T đem về nhà chia thành nhiều phần, gói vào các gói giấy màu trắng và dùng bút đánh dấu lên từng gói, gồm các gói có kí hiệu”4”, “x” và những gói còn lại không đánh dấu. T cất giấu trong người và chờ đến sáng hôm sau đưa cho Đ mang đi bán.

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, Đ đi đến nhà T và gọi điện cho T để lấy ma tuý đi bán. T cho 20 gói ma tuý vào 01 túi nilon màu xanh, trên túi có ghi “Đệ nhất thuốc lào Xuân H1 hạt đỗ” để đưa cho Đ. T thoả thuận với Đ: đối với các gói kí hiệu “4” sẽ bán với giá 400.000 đồng, các gói không đánh dấu sẽ bán 200.000 đồng, các gói có đánh dấu “x” là chứa cả heroin và hồng phiến. Đường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 28B1-078.19 của T giao cho cùng số ma tuý vừa nhận được đến khu vực quảng trường H thuộc địa phận phường Q, thành phố H để bán cho người có nhu cầu. Tại đây, Đ đã sử dụng 01 gói ma tuý, và bán những gói còn lại cho nhiều người trong đó có Nguyễn Phúc H2 và Lương Văn Q.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Đ bị Công an thành phố H bắt và bị thu giữ trong lòng chiếc mũ bảo hiểm 01 túi nilon màu xanh, bên trong túi nilon có 09 gói giấy,

trong các gói giấy có chứa chất bột dạng cục màu trắng, hồng; thu giữ trong túi quần bên trái Đường đang mặc 1.120.000 đồng, theo Đ khai là ma tuý và tiền bán ma tuý do T đưa trước đó.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Vũ Văn T, thu giữ trong túi áo khoác bên phải T đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có 16 gói giấy, trong các gói giấy có chứa chất bột dạng cục màu trắng hồng; thu trong túi áo khoác bên trái T đang mặc 01 túi nilon, bên trong có 02 gói giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng, 01 viên nén màu hồng và chất bám dính theo T khai là ma tuý mua được trước đó của người đàn ông tên T “Bản” ở ngõ T rồi về chia nhỏ đưa cho Đ mang đi bán, còn lại cất giấu trong người, nếu Đ bán hết số ma tuý đã đưa thì T sẽ đưa tiếp cho Đ đi bán.

Bản kết luận số 476-A/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 24/11/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng kí hiệu từ G1 đến G6 trong phong bì số 01 gửi giám định có tổng khối lượng 1,12g, là ma túy, loại heroine.

Chất bột dạng cục màu trắng, hồng kí hiệu từ G15 đến G19 trong phong bì số 02 gửi giám định có tổng khối lượng 0,83g, là ma túy, loại heroine và methamphetamine”

Bản kết luận số 476-B/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 29/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng, hồng kí hiệu từ G7 đến G9 trong phong bì số 01 gửi giám định có tổng khối lượng 0,49g, là ma túy, loại heroine và methamphetamine

Chất bột dạng cục màu trắng kí hiệu từ G1 đến G14 và G20, G21 trong phong bì số 02 gửi giám định có tổng khối lượng 2,82g, là ma túy, loại heroine.

Chất bám dính màu trắng kí hiệu G23 trong phong bì số 02 gửi giám định quá ít, không xác định được khối lượng. Chất bám dính là ma túy, loại heroine”.

Cáo trạng số 70/CT-VKSTPHB ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Vũ Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Vũ Văn T từ 8 năm 6 tháng tù đến 9 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt Bùi Văn Đ từ 8 năm tù đến 8 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định; tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 2 chiếc điện thoại, 01 chiếc xe mô tô thu giữ của các bị cáo; tịch thu sung quỹ nhà nước 1.120.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ; tịch thu tiêu huỷ 1 chiếc mũ bảo hiểm thu của bị cáo Đ, 01 chiếc áo khoác gió thu giữ của bị cáo T; trả lại cho bị cáo Đ 01 chiếc điện thoại hiệu N.

Người bào chữa cho bị cáo Đ trình bày lời bào chữa: nhất trí với tội danh truy tố của Viện kiểm sát, đề nghị Toà xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo, bản thân bị cáo hạn chế về nhận thức, bố bị cáo có công với đất nước để xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị, đề nghị trả lại cho bị cáo Đ chiếc điện thoại hiệu N.

Các Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:

Tại phiên toà, các Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các Bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, được làm rõ tại phiên toà do đó có căn cứ xác định: Ngày 20/11/2023, Vũ Văn T đã có hành vi mua chất ma tuý về chia nhỏ, đóng gói và giao cho Bùi Văn Đ đem bán ma tuý cho nhiều người khác nhau.

Các Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật và nhằm thu lời bất chính nên vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của các Bị cáo đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền quản lý về ma túy của nhà nước, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác.

Hành vi của Bị cáo Vũ Văn T thỏa mãn dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, p khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự; của Bị cáo Bùi Văn Đ thỏa mãn dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Các Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; bị cáo Đ có bố là người có công với nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự, được áp dụng khi lượng hình.

Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, cần có hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, Vũ Văn T là người khởi xướng, mua ma tuý về chia nhỏ và thuê Bùi Văn Đ đi bán do đó phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Đối với Bùi Văn Đ, là người được T thuê đi bán ma tuý, đã thực hành tích cực, bán ma tuý cho nhiều người do đó cũng cần có mức hình phạt tương xứng và thấp hơn bị cáo T.

[4] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc điện thoại hiệu S và Itel thu giữ của các bị cáo được sử dụng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 28B1-078.19 là của bị cáo T giao cho Đ sử để đi bán ma tuý nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước.

Số tiền 1.120.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Chiếc điện thoại hiệu Nokia thu của bị cáo Đường không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với Lê Thế T4 là người bị cáo T4 khai bán ma tuý, cơ quan điều tra đã xác minh, lấy lời khai, đối chất nhưng chưa đủ cơ sở xác định Lê Thế T4 bán ma tuý cho bị cáo T4 ngày 20/11/2023 và không đề nghị truy cứu trách nhiệm nên Toà không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.

Đối với các đối tượng Nguyễn Phúc H2 và Lương Văn Q, là người mua ma tuý của Đ để sử dụng, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa đủ cơ sở xử lý hình sự do đó Toà không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Vũ Văn T; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251 điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Bùi Văn Đ; căn cứ điều 38; điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  1. Tuyên bố: Vũ Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Vũ Văn T 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2023.

Tuyên bố: Bùi Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bùi Văn Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2023.

  1. Xử lý vật chứng:
  • * Tịch thu tiêu hủy:
  • - 22 mẫu ma tuý (phong bì số 01: G1: 0,17g; G2: 0,18g; G3: 0,16g; G4: 0,12g; G5: 0,11g; G6: 0,15g; phong bì số 02: G1: 0,11g; G2: 0,16g; G3: 0,12g; G4: 0,18g; G5: 0,12g; G6: 0,09g; G7: 0,08g; G8: 0,09g; G9: 0,1g; G10: 0,12g; G11: 0,11g; G12: 0,13g; G13: 0,11g; G14: 0,18g; G20: 0,17g; G21: 0,24g), mẫu ma tuý, heroine.
  • - 08 mẫu ma tuý (phong bì số 01: G7: 0,16g; G8: 0,09g; G9: 0,12g; phong bì số 02: G15: 0,11g; G16: 0,09g; G17: 0,15g; G18: 0,12g; G19: 0,19g) loại heroine và methamphetamine
  • - 01 mẫu ma tuý (phong bì số 02: G22: 0,06g) loại methamphetamine
  • - 01 túi nilon cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.
  • * Tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại hiệu Itel (cùng 1 thẻ sim bên trong) của Vũ Văn T; 01 chiếc điện thoại hiệu S (cùng 1 thẻ sim bên trong) của Bùi Văn Đ và 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda biển kiểm soát 28B1-078.19 của Vũ Văn T.
  • * Tịch thu của Bùi Văn Đ 1.120.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
  • * Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc áo khoác gió của Vũ Văn T; 01 chiếc mũ bảo hiểm của Bùi Văn Đ.
  • * Trả lại cho Bùi Văn Đ 01 chiếc điện thoại hiệu N.

(các vật chứng và số tiền trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 94/BB/24 ngày 28/5/2024).

  1. Về án phí: Mỗi Bị cáo Vũ Văn T, Bùi Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - Công an thành phố HB;
  • - CQ THA HS - CA TPHB;
  • - Chi cục THA DS TPHB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh HB;
  • - UBND xã Tú Sơn
  • - UBND phường Phương Lâm
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nghiêm Hoài Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tịch thu của bị cáo để phát mại sung quỹ nhà nước: 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone (bên trong có 01 thẻ sim).

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Vũ Văn T 08 năm 06 tháng tù; Bùi Văn Đ 08 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger