Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-5-2024

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM - TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Ông Huỳnh Đức Tâm
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/3/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1984;
  2. Địa chỉ: số x, ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: Ông Phạm Công Đ, sinh năm: 1981;
  4. Địa chỉ: số x, ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh Bến Tre.

    (Bà T, ông Đ vắng mặt, bà T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T trình bày:

  • - Về hôn nhân: Bà và ông Đ tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm thường xuyên cãi vã. Vợ chồng không còn không quan tâm, chăm sóc, thương yêu nhau, bà đã dọn ra ở riêng. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc. Vì vậy, bà xin được ly hôn với ông Đ.
  • - Về con chung: Không có.
  • - Về tài sản chung: Không có.
  • - Về nợ chung: Không có.

Bà yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho ông Đ nhưng ông Đ đều vắng mặt và cũng không gởi bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, xin được nuôi con chung. Bị đơn ông Đ cư trú tại xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T có yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Đ.

[2] Về hôn nhân: Theo bản sao Giấy chứng nhận kết hôn do bà T cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh chứng nhận kết hôn cho bà T và ông Đ vào ngày 16/7/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Bà T cho rằng nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi, không còn chung sống, không quan tâm chăm sóc nhau. Hiện bà T xác định không còn tình cảm với ông Đ nên xin được ly hôn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện hàn gắn cho ông bà. Ông Đ đã được triệu tập họp lệ nhưng không đến tham dự phiên hòa giải và cũng không gởi bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến mọng muốn hàn gắn với bà T nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân bền vững phải xuất phát từ sự tự nguyện và tình cảm thương yêu, mong muốn gắn bó từ cả vợ và chồng. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai mong muốn hàn gắn. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T.

[3] Về con chung: Bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Đ vắng mặt, không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, 56, 58 và Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc T, cụ thể tuyên:

  1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn với ông Phạm Công Đ.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
  4. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc T có nghĩa vụ nộp án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004777 ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận bà T đã nộp xong án phí.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Thị Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger