|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 5 - 2024 V/v Xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tú
Ông Nguyễn Quốc Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Tô Chúc L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C ..
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C ..
Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Tô Chúc L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2009. Trong suốt thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, anh T thường có hành động bạo lực gia đình, đánh và bốp cổ chị, chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng được, không đồng ý hàn gắn. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể duy trì nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 01 con chung tên: Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh ngày 04/11/2011 đang sống cùng anh T. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao cháu Nguyên cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, việc cấp dưỡng nuôi con chị và anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Biên bản hòa giải ngày 10/4/2024 bị đơn là anh Nguyễn Thanh T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh thống nhất với chị L về thời gian chung sống, anh và chị L có đăng ký kết hôn đúng theo quy định pháp luật, quá trình chung sống giữa anh và chị L có xảy ra mâu thuẫn. Nay chị L yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn giữa anh và chị L không đến mức trầm trọng như chị L xác định. Anh thừa nhận anh có bạo lực gia đình, có tát chị L vài cái do cự cãi nhưng không có bốp cổ chị L. Đã qua, anh đã sửa sai và xin lỗi chị L sẽ không tái phạm nữa.
- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 01 con chung tên: Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh ngày 04/11/2011 đang sống cùng anh. Sau khi ly hôn, cháu có nguyện vọng theo ai thì người đó tiếp tục nuôi dưỡng, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh và chị L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Tô Chúc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không trình bày bổ sung gì thêm.
* Bị đơn là anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa chị Tô Chúc L và anh Nguyễn Thanh T là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Nguyễn Thanh T có địa chỉ cư trú tại ấp Tân Hòa, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Thanh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2
[2] Về hôn nhân: Chị Tô Chúc L và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn kết tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước tỉnh Cà Mau vào năm 2009. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo chị L trình bày, sau khi kết hôn trong suốt thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, anh T thường có hành động bạo lực gia đình, đánh và bốp cổ chị, chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng được, không đồng ý hàn gắn. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể duy trì nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Đối với anh T, quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, tuy nhiên tại Biên bản hòa giải ngày 10/4/2024 anh T có trình bày anh không muốn ly hôn chị L vì còn tình cảm và muốn hàn gắn với chị L chăm lo cho con nhỏ, anh yêu cầu chị L cho anh thêm thời gian sửa chữa. Tuy nhiên, từ thời điểm hòa giải đến ngày xét xử sơ thẩm, anh T vẫn vắng mặt, không có phương án gì để thay đổi yêu cầu xin ly hôn của chị L. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh T đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được đúng như chị L xác định. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh T và chị L có 01 con chung tên: Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh ngày 04/11/2011 đang sống cùng anh T. Sau khi ly hôn, chị L xác định đồng ý giao cháu Nguyên cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Đối với anh T, tại Biên bản hòa giải ngày 10/4/2024 cũng xác định cháu Nguyên có nguyện vọng theo ai thì người đó tiếp tục nuôi dưỡng, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử thấy rằng, theo quy định của pháp luật thì: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên...”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con...” và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau: “... con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện tại, cháu Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh ngày 04/11/2010 đã gần đủ 14 tuổi. Căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến ngày 02/5/2024, sau khi được hỏi là sau khi anh T và chị L ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống cùng cha là anh Nguyễn Thanh T. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào lời trình bày của anh T, chị L và nguyện vọng của cháu Nguyên nên cần giao cháu cho anh T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.
3
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:
Về tài sản chung: Chị L và anh T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung, nợ riêng: Chị L và anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tô Chúc L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Chúc L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh ngày 04/11/2011 đang sống cùng anh T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; mức cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tô Chúc L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 22 tháng 02 năm 2024 chị L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0012856 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tăng Thị Nhớ |
5
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quốc Trung |
Tăng Thị Nhớ |
|
Đỗ Thanh Tú |
|
6
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
