|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 14 -8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thế Dũng
- Bà Lý Thị Nhân
Thư ký phiên tòa: Bà Phàn Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàng A - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS, ngày 02/8/2024, đối với bị cáo:
Phùng Đức D, sinh ngày 22/02/1976 tại tỉnh Tuyên Quang; trú tại: Thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn 6/12; con ông Phùng Đức Đ, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ, Trần Thị H, sinh năm 1978; con; có 02 con lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2016.
- Tiền án:
- + Bản án số 14 ngày 11/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Phùng Đức D 12 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, trị giá tài sản trộm cắp 2.760.000 đồng, chấp hành xong bản án ngày 06/01/2017;
- + Bản án số 71 ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Phùng Đức D 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, trị giá tài sản trộm cắp 1.115.000 đồng, phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự, D chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/8/2019, chưa chấp hành nộp án phí;
- + Bản án số 79 ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Phùng Đức D 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, trị giá tài sản trộm cắp 2.167.500 đồng, phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”, D chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2021, chưa chấp hành nộp án phí và bồi thường dân sự.
- Tiền sự:
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18 ngày 16/9/2022 của Công an xã T, huyện Y xử phạt Phùng Đức D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt).
- Nhân thân:
- + Quyết định số 3290 ngày 30/11/2004 của UBND huyện Y về việc chuyển đối tượng cai nghiện ma túy giai đoạn 1 tại xã, thị trấn vào cai nghiện ma túy giai đoạn 2 tại Công trường 06;
- + Quyết định số 5985 ngày 22/12/2008 của UBND huyện Y về việc công nhận hoàn thành cai nghiện ma túy;
- + Bản án số 86 ngày 29/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang) xử phạt Phùng Đức D 02 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong bản án ngày 31/8/2012);
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000519 ngày 14/10/2014 của Công an thành phố T xử phạt Phùng Đức D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 750.000 đồng (ngày 15/10/2014 D đã nộp phạt);
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74 ngày 16/11/2017 của Công an phường Y, thành phố T xử phạt Phùng Đức D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 750.000 đồng.
* Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Q, sinh ngày 12/01/1971
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phùng Thị H1, sinh năm 1973
- Bà Trần Thị H sinh năm 1978
Địa chỉ: Thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 19/01/2024, Phùng Đức D, trú tại thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô biển số 22K9-7012 (xe D mượn của chị gái là Phùng Thị H1, trú cùng địa chỉ) đi từ nhà đến khu vực Trung tâm sát hạch lái xe tỉnh Tuyên Quang thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, mục đích tìm người quen.
Khoảng 09 giờ cùng ngày, D đi vào khu vực đường đất, cạnh Bệnh viện P tìm chỗ đi vệ sinh, D quan sát thấy trong vườn của nhà chị Nguyễn Thị Q, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T nuôi nhiều gà, không có người ở nhà nên D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản (gà) của chị Q bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. D dựng xe mô tô ở ngoài, đột nhập vào vườn nhà chị Q qua khu vực tường rào bị đổ. D nhặt 01 bao tải dứa ở trong vườn, đi vào trong chuồng gà, trộm cắp được 06 con gà, loại gà ta (gồm 05 con gà mái khối lượng 02kg/con và 01 con gà trống thiến có khối lượng 03kg) cho vào bao tải rồi đi ra ngoài.
Sau khi trộm cắp gà của chị Q, D điều khiển xe mô tô chở số gà trên đến khu vực km5 đường T đi Hà Nội thuộc xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để bán. Do có 01 con gà mái bị chết nên D bán 05 con gà còn lại (gồm 04 con gà mái và 01 con gà trống thiến) cho 01 người phụ nữ nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể được số tiền 900.000 đồng, bán xong D vứt bao tải dứa bên trong đựng 01 con gà đã chết trên đường đi về nhà (không xác định được vị trí cụ thể). Số tiền 900.000 đồng bán gà do trộm cắp mà có, D chi tiêu cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang kết luận:
- 01 con gà trống thiến, loại gà ta, khối lượng 03kg, trị giá 660.000 đồng.
- 05 con gà mái, loại gà ta, khối lượng 02kg/01 con, tổng trị giá 1.400.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 2.060.000 đồng (Hai triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Vật chứng: Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm tang vật nhưng không thu giữ được 06 con gà do bị Phùng Đức D trộm cắp của chị Nguyễn Thị Q.
Dân sự: Ngày 02/7/2024, Phùng Đức D nhờ vợ là Trần Thị H bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị Q số tiền 2.060.000 đồng. Chị Q nhận tiền, không yêu cầu đề nghị về dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị H không yêu cầu D phải trả lại số tiền bồi thường cho chị Q là 2.060.000 đồng.
Trên cơ sở hành vi của bị cáo, ngày 22 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang ban hành bản cáo trạng số 84/CT-VKSTP truy tố bị cáo Phùng Đức D về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phùng Đức D phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng: điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 25/4/2024.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phùng Đức D.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu đề nghị về dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị H không yêu cầu D phải trả lại số tiền bồi thường cho chị Q là 2.060.000 đồng, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 19/01/2024, tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, Phùng Đức D, trú tại thôn I, xã T, huyện Y có hành vi trộm cắp 06 con gà, loại gà ta (gồm 05 con gà mái khối lượng 02kg/con và 01 con gà trống thiến có khối lượng 03kg) tổng trị giá 2.060.000 đồng (Hai triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Q, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Hành vi của bị cáo Phùng Đức D đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Thủ đoạn của bị cáo là lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, động cơ mục đích vì vụ lợi, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tái phạm chưa được xoá án tích, Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm g, khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự và cần xử bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, người phạm tội tự nguyện tác động bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bố của bị cáo là ông Phùng Đức Đ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu đề nghị về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[6]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
*Đối với chị Phùng Thị H1 cho D mượn xe mô tô nhưng không biết D sử dụng xe vào việc phạm tội trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý.
*Đối với người phụ nữ mua tài sản (gà) do D trộm cắp mà có, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phùng Đức D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 25/4/2024.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thế Dũng - Lý Thị Nhân |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
