Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 13/5/2024

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Trần Mai Khanh.
    • Bà Hoàng Thị Hường.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Thái Hoàng Hà, Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 13/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/TLST-HS ngày 16/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 26/4/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu H, sinh ngày 23 tháng 4 năm 1976; tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu B và bà: Nguyễn Thị N; có vợ: Lê Thị Kim L và 03 người con. Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 25.000.000 đồng về “Tội đánh bạc”. Đã thi hành xong hình phạt.

Ngày 01/4/2024 bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố về các tội “làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” theo điểm n khoản 3 Điều 341 và tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

2

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/05/2022 đến 20/10/2022. Hiện tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Kiêm T, Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số D, đường N, khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Hồ Viết T1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, khối F, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • + Chị Lê Thị Kim L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số nhà H, ngõ F, đường T, khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • + Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1983. Địa chỉ: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu H là Giám đốc Công ty cổ phần Đ, trụ sở chính tại số H, ngõ F, đường T, khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình xử lý công việc, Nguyễn Hữu H đã 2 lần (ngày 09/3/2019 và ngày 25/3/2020) thuê xe ô tô tự lái để đi lại, sau đó H sử dụng xe ô tô đã thuê cầm cố lấy tiền chi tiêu vào mục đích cá nhân. Cụ thể như sau:

Sáng ngày 09/3/2019, Nguyễn Hữu H đến nhà anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1977, trú tại khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, thuê xe tự lái. Sau khi trao đổi, hai bên thống nhất anh H1 cho H thuê xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, màu bạc, biển kiểm soát 37A-351.32 để sử dụng làm phương tiện đi lại, hai bên ký kết Hợp đồng thuê xe với nội dung anh H1 cho H thuê chiếc xe trên với giá 22.000.000 đồng/01 tháng, quá trình thuê xe H không được sử dụng để chở hàng cấm, không được cắm (cầm cố) hoặc bán xe, phải bảo quản xe như tình trạng ban đầu, nếu hư hỏng thì phải sửa chữa, nếu vi phạm pháp luật giao thông thì phải chịu trách nhiệm nộp phạt. Sau khi thuê xe, Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô đi giải quyết việc riêng.

Đến chiều ngày 09/3/2019, do thiếu tiền để làm công trình tại tỉnh Hà Tĩnh nên H đã điều khiển xe ô tô Fortuner, mang biển số 37A-351.32 đến cầm cố cho

3

ông Hồ Viết T1, sinh năm 1964, trú tại khối F, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An để vay 600.000.000 đồng. Để tạo sự tin tưởng, H đã viết giấy bán xe với giá 700.000.000 đồng và hẹn ông T1 đến ngày 09/4/2019 sẽ trả cho ông T1 600.000.000 đồng, đồng thời giao cho ông T1 các giấy tờ liên quan đến xe ô tô 37A-351.32 như Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, Giấy chứng nhận kiểm định.

Đầu năm 2020, nhiều lần anh Nguyễn Thanh H1 liên lạc yêu cầu Nguyễn Hữu H trả xe đã thuê và thanh lý hợp đồng, nhưng do không có tiền trả cho ông T1 nên H không thanh toán tiền thuê xe và thanh lý hợp đồng được.

Khoảng đầu tháng 3 năm 2020, Nguyễn Hữu H đã sử dụng xe ô tô Mazda 3, màu trắng, biển kiểm soát 37A-484.25, đăng ký chủ xe ghi tên Công ty cổ phần Đ (xe này được H và vợ là Lê Thị Kim L cùng nhau sử dụng) đến gặp anh Hồ Viết T1 đổi lấy xe Fortuner, biển kiểm soát 37A-351.32 trả cho anh H1 và thanh toán tiền thuê xe đầy đủ.

Sáng ngày 25/3/2020, H tiếp tục đến nhà anh H1 thuê xe ô tô tự lái để làm phương tiện đi lại giải quyết việc cá nhân. Anh H1 đồng ý cho H thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, màu bạc, mang biển số 37A-351.32 (là chiếc xe H đã thuê ngày 09/3/2019) để sử dụng làm phương tiện đi lại, hai bên có ký kết Hợp đồng thuê xe nội dung anh H1 cho H thuê chiếc xe trên với giá thuê xe là 22.000.000 đồng/01 tháng, quá trình thuê xe H không được sử dụng để chở hàng cấm, không được cắm (cầm cố) hoặc bán xe, phải bảo quản xe như tình trạng ban đầu, nếu hư hỏng thì phải sửa chữa, nếu vi phạm luật giao thông thì phải chịu trách nhiệm nộp phạt. Sau khi thuê xe, H sử dụng làm phương tiện đi lại giải quyết việc cá nhân.

Chiều ngày 25/3/2020, Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô đã thuê đến cầm cố cho anh Hồ Viết T1 đổi lấy chiếc xe ô tô Mazda 3, mang biển số 37A-484.25, sử dụng làm phương tiện đi lại để được hưởng các quyền lợi về khấu trừ thuế cho Công ty cổ phần Đ.

Đến tháng 11 năm 2020, anh H1 yêu cầu H trả xe, thanh toán tiền thuê xe và thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, H đã mang xe đi cầm cố, không trả tiền cho anh Hồ Viết T1 nên không lấy được xe ô tô ra trả lại cho anh H1.

Ngày 28/12/2020, Nguyễn Hữu H viết giấy hẹn anh H1 với nội dung đến ngày 31/12/2021 sẽ trả xe và thanh toán tiền thuê xe. Nhưng khi đến thời hạn, H vẫn không trả xe và thanh toán tiền thuê xe cho anh H1.

Ngày 31/4/2021, H tiếp tục viết giấy hẹn anh H1 với nội dung đến ngày

4

20/5/2021 sẽ trả xe và tiền thuê xe. Sau khi quá thời hạn, anh H1 tiếp tục yêu cầu H trả xe, nhưng H vẫn không trả tiền cho anh T1 và không lấy xe ô tô về trả lại cho anh H1.

Ngày 25/01/2022, sau nhiều lần yêu cầu H trả xe, thanh lý hợp đồng không có kết quả, anh Nguyễn Thanh H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An tố cáo Nguyễn Hữu H về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xe ô tô Fortuner, mang biển số 37A-351.32.

Ngày 29/01/2022, anh Hồ Viết T1 giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xe ô tô Fortuner, mang biển số 37A-351.32 và khai báo việc Nguyễn Hữu H cầm cố chiếc xe trên để vay của anh T1 số tiền 600.000.000 đồng.

Ngày 08/5/2022, Nguyễn Hữu H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V làm việc và xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá số 21 ngày 29/9/2022, của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh N, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại FOTUNER, màu sơn bạc, sản xuất năm 2016, biển kiểm soát 37A-351.32, số máy 2KDU928410, số khung 69G7G4032142, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 09/3/2019 có mức giá là: 680.000.000 đồng

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 204 ngày 27/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UNBD thành phố V, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại FOTUNER, màu sơn bạc, sản xuất năm 2016, biển kiểm soát 37A-351.32, số máy 2KDU928410, số khung 69G7G4032142, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 3/2020 có trị giá 610.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã ra quyết định trả xe ô tô và các giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thanh H1.

Về dân sự: chị Lê Thị Kim L (vợ của Nguyễn Hữu H đã trả cho anh Nguyễn Thanh H1 250.000.000 đồng, trả cho anh Hồ Viết T1 số tiền 350.000.000 đồng. Anh H1 và anh T1 thống nhất đã giải quyết xong về dân sự, không có yêu cầu gì đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra có 01 (một) Hợp đồng thuê xe; 01(một) Giấy hẹn trả xe; 01(một) Giấy bán xe – Hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.

5

Cáo trạng số 226/CT-VKSNA-P2 ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Hữu H về: "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; tình tiết giảm nhẹ: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “đã bồi thường đầy đủ cho bị hại; sau khi phạm tội đã đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng, theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với hành vi theo hợp đồng lần thứ nhất, bị cáo đã thực hiện xong và thanh toán các khoản liên quan cho anh H1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên cáo trạng và phát biểu quan điểm: Việc truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; căn cứ tài liệu có tại hồ sơ và kết quả tranh tụng có căn cứ xác định bị cáo thực hiện 02 hành vi phạm tội, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: phạm tội 02 lần trở lên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh. Đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên. Lý do: hợp đồng thuê xe ngày 09/3/2019 các bên đã thỏa thuận chấm dứt, thực hiện xong thanh lý hợp đồng vào đầu tháng 3/2020, không có yếu tố chiếm đoạt trong hành vi này. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo vì đã có thành tích trong công tác làm từ thiện tại Hà Tĩnh, được xác nhận. Bị cáo có cùng ý kiến tranh luận như lời bào chữa.

Nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

6

[1] Hành vi phạm tội của bị cáo.

Do có nhu cầu sử dụng phương tiện để đi lại giải quyết việc riêng nên ngày 09/3/2019 và ngày 25/3/2020, Nguyễn Hữu H đến nhà anh Nguyễn Thanh H1, trú tại khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, thuê xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, màu bạc, biển kiểm soát 37A-351.32. Sau 2 lần thuê xe ô tô đi lại giải quyết việc riêng, do cần tiền phục vụ mục đích cá nhân nên H đã sử dụng xe ô tô đã thuê của anh Nguyễn Thanh H1 cầm cố cho ông Hồ Viết T1 lấy 600.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Anh Nguyễn Thanh H1, sau nhiều lần liên hệ để lấy xe nhưng bị cáo không trả. Ngày 25/01/2022, anh Nguyễn Thanh H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An tố cáo Nguyễn Hữu H về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xe ô tô Fortuner, mang biển số 37A-351.32.

Kết luận định giá tài sản xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, màu bạc, biển kiểm soát 37A-351.32 tại 2 thời điểm: Ngày 09/3/2019 có mức giá: 680.000.000 đồng; thời điểm, tháng 3/2020 có mức giá: 610.000.000 đồng.

Điều 175 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng ......b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, Nguyễn Hữu H đã thuê xe của anh Nguyễn Thanh H1 để sử dụng nhưng lại sử dụng vào mục đích bất hợp pháp, dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản là hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Kết luận định giá tài sản tại thời điểm thuê xe và mang đi cầm cố là trên 600.000.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 175 BLHS là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất hành vi phạm tội:

[2.1] Tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, đối với lần thuê và cầm cố xe lần thứ nhất, giữa anh H1 và bị cáo đã kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng thuê; các bên đã thanh lý hợp đồng ngày 20/03/2020. Như vậy, bị cáo có thỏa thuận thuê xe để đi lại nhưng lại dùng vào mục đích khác, tuy nhiên không có dấu

7

hiệu “gian dối” hoặc “bỏ trốn”, “để chiếm đoạt tài sản”; khi đến thời hạn thỏa thuận, các bên đã thanh lý hợp đồng. Tiếp đến, ngày 25/3/2020, anh H1 tiếp tục cho bị cáo thuê xe, như vậy anh giữa anh H1 và bị cáo đã có sự thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lần thứ nhất, không cho thấy anh H1 bị “chiếm đoạt”. Ngày 25/01/2022, anh H1 mới tố cáo đối với hành vi mượn xe nhưng không trả theo hợp đồng ngày 25/3/2020.

Tại Điều 175 BLHS quy định: Người nào ......Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trong trường hợp này, mặc dù Nguyễn Hữu H đã sử dụng xe ô tô đã thuê không đúng thỏa thuận hợp đồng, tuy nhiên không mất khả năng thanh toán, các điều khoản khác của hợp đồng giữa anh H1 và bị cáo vẫn được thực hiện tự nguyện và đã được thanh lý. Việc xác định bị cáo phạm tội 02 lần trở lên về cả 02 hành vi lạm dụng tín nhiệm thuê xe đưa đi cầm cố ngày 19/3/2019 và 25/3/2020 là chưa phù hợp với quy định của điều luật.

Có căn cứ xác định bị cáo thực hiện 01 hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo hợp đồng thuê xe ngày 25/3/2020. Giá trị tài sản được định giá tại thời điểm (tháng 3/2020) là 610.000.000 đồng.

[2.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, vì đã có thành tích trong công tác làm từ thiện tại Hà Tĩnh. Hội đồng xét xử xét thấy: căn cứ quy định tại điều luật, các hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền, không đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ: người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; sau khi phạm tội đã đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; quá trình sinh sống bị cáo đã tham gia công tác từ thiện xây tặng 01 ngôi nhà cấp 4 cho hộ nghèo tại Hà Tĩnh, trị giá 80 triệu đồng; bố bị cáo là ông Nguyễn Hữu B được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

8

[2.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có đủ điều kiện áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khoản 3 Điều 175 BLHS như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm, tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo sớm trở lại cộng đồng xã hội.

[3] Hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Hình phạt bổ sung: Xét thấy, hiện tại bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về dân sự: Bị cáo và bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ án 01 hợp đồng thuê xe; 01 giấy hẹn trả xe; 01 giấy bán xe. Đây là tài liệu chứng cứ của vụ án, được lưu tại hồ sơ vụ án.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 175, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 05 (năm) năm tù về tội. “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án,

9

nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2022 đến 20/10/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

[2] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: lưu hồ sơ vụ án 01 hợp đồng thuê xe; 01 giấy hẹn trả xe; 01 giấy bán xe. Các vật chứng trên có tại hồ sơ vụ án tại các bút lục số 145 – 146 – 147.

[3] Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Cục T.H.A dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; Bị hại; người có QNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Huu Hoang - Lam dung tncđts
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger