Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HSST

Ngày: 12/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đắc Hà và ông Nguyễn Tiến Dũng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 12/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến rút kinh nghiệm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Trần Văn S, sinh năm 1998; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi ĐKHKT tại: Bản T, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện nay: P, tòa A V, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Bố đẻ: Trần Văn hải (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; vợ: Lương Thị N (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 164 lập ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

Nhân thân: Ngày 26/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 134 - Bộ luật Hình sự, tại bản án số: 27/2020/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2020. Bị cáo chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xoá án tích.

Ngày 29/9/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; ngày 20/5/2024, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Cáo trạng truy tố ngày 01/7/2024. Hiện vụ án đã được chuyển đến Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý giải quyết, đến ngày xét xử, vụ án trên vẫn chưa được đưa ra xét xử.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1970; vắng mặt. Trú tại: Thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

* Người chứng kiến: Ông Lưu Trường S1, sinh năm 1959 – Trưởng thôn 2; vắng mặt. Trú tại: Thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 10/3/2024 Trần Văn S thuê taxi đi từ phòng trọ ở phòng I, Tòa A V, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đến khu vực đường vòng xuyến thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi (không rõ tên, địa chỉ) được một túi ma tuý Heroine với giá 20.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S đem về phòng trọ cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời phục vụ nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, S lấy ma túy giấu vào túi áo khoác bên phải S đang mặc trên người chủ động đi xuống khu vực thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để bán cho Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1970, trú tại: Thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội với giá 25.000.000 đồng vì do trước đây, S có quen biết và bán ma túy cho T1 vào khoảng 2023. Khi S đi đến khu vực bờ đê sông H thuộc thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội đợi Tới để giao ma tuý thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện M phối hợp với Tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang.

* Vật chứng vụ án:

Quá trình bắt giữ S thu giữ gồm: 01 túi ni lông kích thước (5x7) cm chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số IMEI1: 357234093107344; số IMEI2: 357234092888944 bên trong lắp sim số 0568497610.

Ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn S ở tại phòng I, Tòa A V, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì thêm liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số: 2262/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 16,057 gam".

Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy mẫu 0,643 gam chất ma túy Heroine làm mẫu giám định, phần còn lại 15,414 gam chất ma túy Heroine hoàn trả Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 31/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố: Trần Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt Trần Văn S từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

-Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có 15,414 gam ma túy loại Heroin;

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số IMEI1: 357234093107344; số IMEI2: 357234092888944 bên trong lắp sim số 0568497610.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp

với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, người chứng kiến; phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 19/3/2024, tại khu vực bờ đê sông H thuộc thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện M phối hợp với Công an xã Thạch Đà phát hiện bắt quả tang, Trần Văn S có hành vi tàng trữ 16,057 gam chất ma túy loại Heroin mục đích để bán cho Nguyễn Hữu T1 thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số: 2262/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 16,057 gam".

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn S đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cụ thể: Điều 251 quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

i) Heroin... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

  1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các đối tượng mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc và nhức nhối trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án mạnh mẽ; là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác như giết người, cướp tài sản và gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác, đây cũng là nguyên nhân chính lây lan căn bệnh HIV-AIDS. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, pháp luật để ngăn chặn nhưng loại tội phạm này không những không giảm mà vẫn ngày càng có chiều hướng gia tăng. Do đó, cần xét xử hành vi của bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng răn đe bị cáo và góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy.
  2. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

Ngoài ra trong thời gian trốn truy nã, bị cáo còn thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác nên vào ngày 01/7/2024 còn bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Cáo trạng truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng cho bản thân ham chơi nghiện ma túy và phạm tội mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân điều đó chứng tỏ bị cáo là người có ý thức kém, coi thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt, điều đó thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta. Tuy nhiên xét thấy, lượng ma tuý lớn và cần xử phạt hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp, cần được xem xét để đưa ra mức hình phạt phù hợp hơn so với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

  1. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự ngoài hình phạt chính có thể phạt bị cáo hình phạt bổ sung một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Nhưng xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện, không có thu nhập ổn định, bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời để mua ma túy phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân nên miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
  2. Về vật chứng vụ án:
  • - 01 phong bì niêm phong bên trong có 15,414 gam ma túy loại Heroin là tang vật của vụ án cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số IMEI1: 357234093107344; số IMEI2: 357234092888944 bên trong lắp sim số 0568497610.

Xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.

  1. Các vấn đề khác:
  • - Đối với đối tượng Nguyễn Hữu T1, quá trình điều tra xác định: Ngày 10/3/2024, T1 không liên hệ, bàn bạc hay trao đổi mua bán chất ma túy với Trần Văn S nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định.
  • - Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Văn S tại khu vực đường V, phường K, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 10/3/2024: Quá trình điều tra, không xác định được tên họ, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét cử không xem xét.
  • - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Khoản i, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn S 09 (Chín ) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/3/2024.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 15,414 gam ma túy loại Heroin;
    • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số IMEI1: 357234093107344; số IMEI2: 357234092888944 bên trong lắp sim số 0568497610.

    (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

  3. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Định

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HSST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 83/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Sơn bán trái phép ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger