TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HSST
Ngày: 11/9/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Quảng.
Bà Tô Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐHPT-ST ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn H, sinh ngày 14/4/2001 tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn K và bà Nguyễn Thị L; vợ là Kră Jăn Jurim và có 02 con; tiền sự: không; tiền án: không. Nhân thân: Quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính “Đưa vào trường G” số 02 ngày 11/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đối với Phạm Văn H1 thời hạn là 01 năm. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/5/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Anh Ngô Tiến T, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Phố Đ, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định.
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 (Có mặt)
Ông Đặng Văn K, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Anh Chu Quang L1 sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Anh Nguyễn Thế H2, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 04/6/2019, Đặng Văn H cùng Nguyễn Thế H2 rủ nhau đi xuống bãi biển Đ thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình chơi. H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen (xe mô tô này do H mượn của anh Chu Quang L1 đi từ xã T theo hướng xã Đ - Đ - Đ. Khi đi đến khu vực T1 thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện T, H phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29E1-955.68, màu đen bạc của Công ty cổ phần D giao cho anh Ngô Tiến T quản lý, sử dụng đang dựng ở lề đường cạnh nhà bà Lương Thị N, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe, không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi hàng ngày nhưng không nói cho H2 biết. Khi đi qua khu vực để xe khoảng 50 mét, H bảo H2 dừng xe lại để H xuống đi có việc và nói H2 đi về trước thì H2 đồng ý. Thấy H2 đi về, H đi bộ ngược lại vị trí để xe mô tô lúc trước, quan sát không có người trông coi. H dắt chiếc xe mô tô ra ngoài đường mở khóa xe, nổ máy và đi về nhà ở thôn Đ, xã T, huyện T. H mở cốp xe mô tô tìm kiếm thì thấy bên trong có một thiết bị định vị General Vehicle GPS Tracker (thiết bị theo dõi xe chung) màu đen, kích thước (4x7) cm, ngoài ra không có tài sản gì khác. H đóng cốp xe lại rồi cất giấu xe tại khu vực sân giếng trong khuôn viên gia đình rồi đi lên Thị Trấn T, huyện T. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, anh T phát hiện bị mất chiếc xe và trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T. Trên cơ sở ứng dụng định vị, Cơ quan điều tra đã xác định chiếc xe của anh T bị mất đang cất giấu tại nhà ông Đặng Văn K (là bố đẻ của H) ở thôn Đ, xã T, huyện T nên đã quản lý thu giữ. Sau khi biết sự việc bị phát hiện H đã bỏ trốn vào tỉnh Lâm Đồng làm việc, lập gia đình và sinh sống tại đây. Ngày 02/8/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, đến ngày 02/10/2019 ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Ngày 10/5/2024 H đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản ngày 05/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha màu đen bạc trị giá 11.900.000 đồng, 01 thiết bị định vị General Vehicle GPS Tracker trị giá 1.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 13.100.000 đồng (Mười ba triệu một trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố Bị cáo Đặng Văn H về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với Bị cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiện dân sự: Đã giải quyết xong, không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 04/6/2019. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 13.100.000đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Đơn trình báo và biên bản ghi lời khai của bị hại là anh Ngô Tiến T;
- Sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 04/6/2019;
- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 4/6/2019;
- Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L, ông Đặng Văn K, anh Chu Quang L1 và anh Nguyễn Thế H2;
- Bản kết luận định giá tài sản ngày 5/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 4/6/2019, lợi dụng lúc anh Ngô Tiến T vào nhà bà Lương Thị N ở thôn Đ, xã Đ, huyện T để nghỉ trưa, Đặng Văn H đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha BKS: 29E1- 95568 màu đen bạc trị giá 11.900.000 đồng, trong cốp xe có 01 thiết bị định vị General Vehicle GPS Tracker trị giá 1.200.000đồng của Công ty cổ phần D giao cho anh Ngô Tiến T quản lý, sử dụng dựng ở lề đường trước cửa nhà bà N mục đích để sử dụng làm phương tiện cho bản thân. Tổng trị giá tài sản H trộm cắp là 13.100.00 đồng (Mười ba triệu một trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Đặng Văn H đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định tội "Trộm cắp tài sản":
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng".
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
[4]. Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo xuất thân từ người lao động, ngày 11/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 10/5/2024 bị cáo đến Công an huyện T đầu thú về hành vi phạm tội của Bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp được thu hồi trả lại bị hại. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tạm giam bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Ngô Tiến T đã nhận lại tài sản, anh T đã bàn giao tài sản cho Công ty cổ phần D và không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
[7]. Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này có anh Nguyễn Thế H2 là người đi cùng H vào sáng 04/6/2019, anh Chu Quang L1 là người cho H mượn xe mô tô để H2 điều khiển chở H xuống xã Đ chơi. Tuy nhiên tài liệu điều tra xác định anh L1 không biết mục đích H mượn xe mô tô để làm gì; quá trình H2 chở H đi xuống xã Đ, H không bàn bạc với H2 về việc đi trộm cắp tài sản, H2 không biết việc H trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha BKS: 29E1- 95568 màu đen, bản thân H2 không được hưởng lợi gì từ việc trộm cắp tài sản, do đó Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh H2, anh L1 là có căn cứ.
Sau khi trộm cắp được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha BKS: 29E1- 95568 màu đen, H mang về cất giấu tại khu vực sân giếng của gia đình, bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn K là bố mẹ của H không biết việc H đã trộm cắp chiếc xe trên, ngay sau đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã phát hiện và quản lý chiếc xe trên nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà L, ông K là phù hợp.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt Bị cáo Đặng Văn H 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/9/2024)
Giao bị cáo Đặng Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới”.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Không giải quyết.
4. Về án phí:
Bị cáo Đặng Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/9/2024).
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |
Bản án số 83/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 83/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn H phạm tội
