Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ ÔN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Tài
  2. Bà Thạch Thị Thanh Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1989. (vắng mặt)

Bị đơn: Anh Võ Văn T1, sinh năm 1985. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: ấp Ông L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 02 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2009, chị T và anh Võ Văn T1 qua mai mối rồi tiến đến hôn nhân, gia đình có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Khi cưới bên chồng có cho cô dâu nữ trang cưới là 01 cây vàng 24k (Gồm có: đôi bông 01 chỉ, dây chuyên 05 chi, tam lắc 03 chỉ và cặp nhẫn 01 chỉ) nhưng đã bán hết để tiêu xài trong gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng về quê chồng sinh sống, thời gian đâu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây do khó khăn về kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh T1 không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập vợ con, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm sống nên chúng tôi đã ly thân từ khoảng tháng 06/2023 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau.

Về hôn nhân: chị T xin được ly hôn ly hôn với anh Võ Văn T1.

Về con chung: chị T và anh T1 có 02 người con chung tên Võ Văn P, sinh ngày 28/7/2009 và Võ Thị Phương U, sinh ngày 28/02/2015, chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý đơn của chị T, Tòa án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý và Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn anh T1 nhưng bị đơn anh T1 không đến tham gia phiên họp và hòa giải được. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa: nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.

Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T phát biểu:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và trình tự, thủ tục xét xử của Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, người làm chứng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72, 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị T.

  1. Về hôn nhân: Xử cho nguyên đơn chị Phạm Thị T ly hôn với bị đơn anh Võ Văn T1.
  2. Về con chung: Giao con chung Võ Văn Phú Q, sinh ngày 28/7/2009 và Võ Thị Phương U, sinh ngày 28/02/2015 cho chị T nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản: chị T, anh T1 chưa yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T nộp 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyền yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Trường hợp này là vụ án tranh chấp ly hôn do bị đơn anh Võ Văn T1 có địa chỉ tại ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn.

[1.3]. Về người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Phạm Thị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Văn T1 vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị T và anh Võ Văn T1 kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo giấy chứng nhận kết hôn số: 119, ngày 27/6/2009 và chị T, anh T1 kết hôn cũng đảm bảo các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo xác định của nguyên đơn và các chứng cứ thu thập thể hiện giữa chị T và anh T1 có phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên bất đồng ý kiến, anh T1 không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập vợ con, từ đó làm cho quan điểm sống không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên đã ly thân từ 6/2023 là phù hợp với lời khai của người thân. Từ đó, xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Võ Văn T1 có một chung là Võ Văn Phú Q, sinh ngày 28/7/2009 và Võ Thị Phương U, sinh ngày 28/02/2015 hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được nuôi các cháu. Anh T1 không có ý kiến về việc nuôi con của chị T. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay các con Quý, U hiện sống với chị T cuộc sống cũng đảm bảo các con cũng có nguyện vọng sống với chị T nên giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng: đây là nghĩa vụ của cha mẹ khi ly hôn nhưng chị T nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng, anh T1 không có ý kiến trình bày nên miễn xét.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung: chị T xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T1 không có ý kiến trình bày nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.5] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị T nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 5; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị T

  1. Về hôn nhân:
  2. Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Võ Văn T1.

  3. Về con chung:
  4. Giao con chung Võ Văn Phú Q, sinh ngày 28/7/2009 và Võ Thị Phương U, sinh ngày 28/02/2015 cho chị T nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Buộc chị Phạm Thị T có nghĩa vụ nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0011070 ngày 19/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, chị T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Trà Ôn;
  • - THADS huyện Trà Ôn;
  • - UBND xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Bá Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị T với Võ Văn T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger