|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thì Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1967. Địa chỉ cư trú: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Nguyệt H, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 3 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày: Vào năm 1998 ông và bà Lê Thị Nguyệt H do hai bên gia đình mai mối đã đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (N là thị trấn T), huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống bên gia đình ông, sau đó vợ chồng ra sống riêng. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau và đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân không có hàn gắn tình cảm được, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Nguyệt H.
- Về việc nuôi con: Có 02 con chung tên Trần Quang K1, sinh năm 1999 và Trần Quỳnh A, sinh năm 2003, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung vụ án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của ông K, cho ông K ly hôn với bà H. Về việc nuôi con: Có 02 con chung tên Trần Quang K1, sinh năm 1999 và Trần Quỳnh A, sinh năm 2003, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn ông Trần Văn K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Lê Thị Nguyệt H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn K và bà Lê Thị Nguyệt H là hợp pháp được pháp luật công nhận, vì có đăng ký kết hôn phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Xét, yêu cầu của ông K là có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống giữa ông K và bà H có phát sinh mâu thuẫn gia đình. Ông K và bà H đã không còn sống chung nhiều năm, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn liên hệ gì với nhau, không gặp nhau hàn gắn. Tòa án đã triệu tập bà H đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Điều này cho thấy hôn nhân giữa ông K và bà H không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Trần Văn K được ly hôn với bà Lê Thị Nguyệt H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về việc nuôi con: Có 02 con chung tên Trần Quang K1, sinh năm 1999 và Trần Quỳnh A, sinh năm 2003, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về chia tài sản chung: Ông K trình bày tự thỏa thuận, bà H chưa có văn bản ý kiến nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.
[6] Về nợ chung: Ông K trình bày không có, bà H chưa có văn bản ý kiến nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.
[7] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn ông K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006055 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn K. Cho ông Trần Văn K được ly hôn với bà Lê Thị Nguyệt H.
- Về việc nuôi con chung Có 02 con chung tên Trần Quang K1, sinh năm 1999 và Trần Quỳnh A, sinh năm 2003, các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006055 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thì Trang |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khánh-Tiền
