Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày

09 - 8 - 2024

Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Siêng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nghĩa và ông Trần Đại Minh
  • - Thư ký phiên tòa: ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 174/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Hồ Thị Anh V - sinh năm 1989; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Bị đơn: Nguyễn Thành S – sinh năm 1989; Địa chỉ: thôn N, xã B, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên toà nguyên đơn Hồ Thị Anh V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chúng tôi tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 12 năm 2015, số 55/2015 tại UBND xã B, thành phố T. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống tại nhà cha mẹ chồng tại xã B, thành phố T, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, khi tôi mang thai thì nghỉ việc, chỉ một mình anh S đi làm nhưng cũng không có thu nhập, vợ chồng kình cải, nghĩ vì con nên tôi nhiều lần cho anh S cơ hội nhưng anh vẫn chứng nào tật nấy, không lo làm ăn mà ham mê cờ bạc, nợ nầng. Khoảng cuối năm 2020 tôi đã về nhà mẹ ở đến nay, thỉnh thoảng anh S có đến thăm con nhưng vợ chồng không khắc phục mâu thuẫn, nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu giải quyết ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Thành S1 – sinh ngày 02/10/2016, hiện đang ở với tôi. Nay tôi yêu cầu giao con cho tôi nuôi, tôi không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn Nguyễn Thành S vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ và không có lời trình bày.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu như trên.

Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý, thu thập chứng cứ từ khi thụ lý đến khi xét xử tuân thủ đúng theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng khi tiến hành xét xử tại phiên tòa. Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung: giao 01 con chung Nguyễn Thành S1 – sinh ngày 02/10/2016 cho chị V nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; về án phí: đương sự chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị Anh V và anh Nguyễn Thành S tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn, số 55/2015, ngày 07 tháng 12 năm 2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2020 chị V dẫn con về nhà mẹ ruột; anh S cũng không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ; cả hai không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị V, anh S đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Thành S1 – sinh ngày 02/10/2016 hiện đang sống với chị V. Xét, chị V có yêu cầu nuôi dưỡng con chung là chính đáng, phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử cần căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung Nguyễn Thành S1 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.

[2.3] Về mức cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xét. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Anh V. Chị Hồ Thị Anh V được ly hôn với anh Nguyễn Thành S.
  2. Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Thành S1 – sinh ngày 02/10/2016. Giao chị Hồ Thị Anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thành S1. Anh Nguyễn Thành S không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  5. Về án phí: Nguyên đơn Hồ Thị Anh V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002512 ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - UBND xã Bình Ngọc, TP. Tuy Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

Phan Thị Lệ Siêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger