|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/8/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Kim
- Ông Đỗ Thị Thúy Diễm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2024. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982.
HKTT: ấp T, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Út E, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bà T có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông Út E vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/02/2024 và bản tự khai ngày 04/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Út E do mai mối, sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/10/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình, thường hay cãi nhau, ông Út E thường xuyên đi nhậu, sau khi uống rượu say về thì kiếm chuyện để cãi nhau với bà, cũng có khi còn đánh đập bà. Cách nay khoảng 07- 08 năm có một lần đánh bà và bà có yêu cầu chính quyền ấp xã can thiệp, ông Út E viết cam kết sẽ sửa đổi nhưng ông Út E không thay đổi, vẫn thường đánh bà. Bà và ông Út E đã sống ly thân khoảng hơn 06 tháng nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có hàn gắn với nhau, mạnh ai nấy sống. Nay bà xác định tình cảm với ông Út E không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông Út E ly hôn với nhau.
Khi ly hôn bà không yêu cầu ông Út E cấp dưỡng giữa vợ chồng.
- Về nuôi con chung: bà và ông Út E có 03 con chung tên Nguyễn Vũ L, sinh năm 2003; Nguyễn Vũ S, sinh năm 2004; Nguyễn Vũ H, sinh ngày 26/6/2011. Hiện nay cháu L và cháu S đã thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi cháu H, không yêu cầu ông Út E cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Ú Em được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định về nghĩa vụ của mình, cụ thể còn vắng mặt trong những lần Tòa án mời.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Út E; Về con chung: bà T được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Vủ H, sinh ngày 26/6/2011; ông Út E không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu; Đối với cháu Nguyễn Vũ L, sinh năm 2003; Nguyễn Vũ S, sinh năm 2004 đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung: bà T trình bày không có nên không xem xét giải quyết; Về nợ chung: không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn Nguyễn Văn Ú Em có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống, có mặt tại xã N, huyện M nên căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú Em xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 05/10/2006. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông Út E đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà cũng có thời gian dài chung sống hạnh phúc nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc bà T xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà T cho rằng: nguyên nhân vợ chồng mất hạnh phúc là do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, ông Út E thường hay uống rượu rồi kiếm chuyện đánh đập bà,...
[4] Hội đồng xét xử thấy rằng theo trình bày của bà T thì vợ chồng bà do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến mâu thuẫn. Bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn và nói chuyện với ông Út E để tìm cách khắc phục mâu thuẫn gia đình nhưng hai vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, dẫn đến việc bà T khởi kiện xin ly hôn. Đồng thời, Tòa án đã tiến hành mời ông Út E đến Tòa nhiều lần để hòa giải, tạo điều kiện hàn gắn hôn nhân cho ông bà nhưng ông Út E vắng mặt không có lý do (ông Út E từ chối nhận văn bản tống đạt của Tòa án) điều đó chứng tỏ ông không có thiện chí hàn gắn hôn nhân cùng bà T. Tại văn bản xác nhận ngày 28/5/2024 với trưởng ấp T thì được cung cấp thông tin “vợ chồng bà T và ông Út E có từng xô xát đánh nhau, khoảng vài tháng gần đây thì bà T không còn sống ở địa phương mà về nhà cha mẹ ruột sinh sống...”. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn hôn nhân của bà T và ông Út E đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp.
[5] Khi ly hôn bà T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về con chung: trong thời gian sống chung bà T và ông Út E có 03 con chung tên Nguyễn Vũ L, sinh năm 2003; Nguyễn Vũ S, sinh năm 2004; Nguyễn Vủ H, sinh ngày 26/6/2011. Trong đó, cháu L và cháu S đã thành niên, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Vủ H, sinh ngày 26/6/2011 khi ly hôn bà T yêu cầu nuôi cháu H, không yêu cầu ông Út E cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên thì cháu H cũng có nguyện vọng được sống cùng với bà T, điều này cũng phù hợp với yêu cầu của bà T về vấn đề con chung. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các con chung và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên tiếp tục giao cháu H cho bà T nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu nên ông Út E không phải cấp dưỡng nuôi con.
[7] Về tài sản chung: bà T trình bày tài sản chung không có. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Út E không có văn bản trình bày ý kiến gì về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp các bên có tranh chấp thì được quyền khởi kiện trong một vụ án khác.
[8] Về nợ chung: bà T trình bày không có nên không đề cập.
[9] Về án phí ly hôn: bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[10] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Út E.
- Về nuôi con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Vũ L, sinh năm 2003; Nguyễn Vũ S, sinh năm 2004; Nguyễn Vủ H, sinh ngày 26/6/2011. Trong đó, cháu L và cháu S đã thành niên, có khả năng lao động không xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn bà T là người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Vủ H (hiện nay cháu H đang sống với bà T), ông Út E không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày tài sản không có nên không xem xét.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T trình bày không có nên không đề cập.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003136 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Thanh Minh |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà T và ông E
