Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Kim Thoa

Ông Nguyễn Văn Cao

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn S, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/01/1988, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Ú và bà Lê Thị Đ; vợ Nguyễn Thị H và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố tại ngoại điều tra. Có mặt;

Bị hại:

  1. Nguyễn Thanh T (đã chết).

    Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thanh T:

    • Ông Nguyễn Lâm Hoàng D, sinh năm 1945; Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
    • Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Lâm Hoàng D và bà Nguyễn Thị N: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (xin vắng mặt).

    • Bà Trần Thị T1, sinh năm 1983;
    • Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 2007;
    • Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 2012;
    • Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2017;

    Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của cháu T2, cháu N1 và cháu Q: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (xin vắng mặt).

  2. Ông Tô Văn H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  3. Ông Tạ Văn T3, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  4. Bà Tạ Thị Mỹ T4, sinh năm 1998; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Tạ Thị Mỹ T4: Ông Huỳnh Văn N2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 01/6/2023, Huỳnh Văn S có giấy phép lái xe hạng C có giá trị đến ngày 01/3/2028, điều khiển xe ô tô tải biển số 68C-022.07 một mình lưu thông trên Quốc lộ N (QLN2) hướng từ huyện T đi huyện Đ, đèn phía trước xe có hiệu lực, lúc này trời mờ sáng, không có mưa, không có đèn đường cao áp chiếu sáng, tầm nhìn thông thoáng, QLN2 có mặt lộ nhựa bằng phẳng rộng 07 m, có vạch sơn nét đứt màu vàng phân chia hai chiều đường xe chạy, phần đường hướng huyện T đi huyện Đ rộng 3,5m, S điều khiển xe 68C-022.07 với tốc độ khoảng 45 km/h. Khi đến Km 27+100m thuộc Ấp D, xã T, huyện B, do S mệt nên điều khiển xe 68C-022.07 chuyển hướng sang phần đường bên trái để đi đến bãi đất trống bên trái phía trước nghỉ ngơi, S không mở tín hiệu đèn mà cho xe chuyển hướng sang bên kia đường. Khi bánh trước bên trái của xe 68C-022.07 đã qua vạch sơn giữa trung tim đường khoảng 40 cm trên phần đường hướng huyện Đ đi huyện T, cùng lúc này phần đường hướng huyện Đ đi T có xe ô tô tải biển số 66H-030.19 do Tô Văn H1 điều khiển đi cùng có Tạ Văn T3 ngồi ghế phụ chạy đến. Lúc này, S phát hiện xe ô tô 66H-030.19 mở pha chớp đèn chiếu sáng xa báo hiệu thì S đánh tay lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách hai xe quá gần dẫn đến phần cabin bên trái, mặt ngoài vỏ bánh xe trước bên trái, mâm bánh xe trước bên trái và cạnh phía trước thùng xe trước bên trái của xe 68C-022.07 đụng vào phần bên trái cabin, mặt ngoài vỏ bánh xe trước trái, mâm bánh xe trước bên trái và cạnh thùng bên trái xe 66H-030.19 đẩy xe 66H-030.19 lùi về hướng huyện Đ một đoạn 3,9m. Cùng lúc này phía sau cùng chiều của xe 66H-030.19 có xe mô tô biển số 66F1-394.97 do Nguyễn Thanh T điều khiển chở chị Tạ Thị Mỹ T4, do xe 66H-030.19 bị đẩy lùi về sau bất ngờ nên anh T không tránh kịp dẫn đến phần cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước và bánh trước của xe 66F1-394.97 đụng vào cảng bảo vệ phía sau xe 66H-030.19 làm xe mô tô 66F1-394.97 và anh T té ngã vào gầm xe 66H-030.19, còn xe 68C-022.07 chạy về hướng huyện Đ một đoạn 23,3m rồi dừng lại tại bãi đất trống trên phần đường hướng huyện Đ đi huyện T. Hậu quả, anh T tử vong tại hiện trường, chị T4, anh H1 bị chấn thương nặng được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á huyện Đ, anh T3 bị thương nhẹ tự điều trị tại nhà, xe ô tô 68C-022.07, xe ô tô 66H-030.19 và xe mô tô 66F1-394.97 bị hư hỏng nặng.

Tại Kết luận giám định tử thi số 112/KLGĐTT-TTPY ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận: Dập rách da vùng trán giữa hai cung mày, dập môi trên và môi dưới. Bầm tụ máu dưới da đầu vùng trán. Nứt vỡ bung hộp sọ vùng trán phức tạp. Kết luận nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn Thanh T tử vong do chấn thương sọ não nặng làm nứt vỡ bung hộp sọ vùng trán phức tạp.

Tại Kết luận giám định độc chất số 617/701/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 16/6/2023 của P tại TP . - V, kết luận: Không tìm thấy E và M trong mẫu máu của Nguyễn Thanh T.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐG ngày 27/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: Thiệt hại của xe ô tô tải 66H-030.19, nhãn hiệu Hino, màu sơn trắng, số khung 15908, số máy 25674 bị hư hỏng do tai nạn giao thông là 852.455.560 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐG ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: Thiệt hại của xe mô tô biển số 66F1-394.97 là 11.820.000 đồng.

Ngày 30/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 224/QĐ và số 225/QĐ, trưng cầu Trung tâm pháp y - Sở Y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tô Văn H1 và Tạ Thị Mỹ T4, tuy nhiên anh H1 và chị T4 từ chối giám định thương tích.

Ngày 28/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 171/QĐ và số 172/QĐ trưng cầu Trung tâm pháp y - Sở Y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tô Văn H1 và Tạ Thị Mỹ T4 trên hồ sơ bệnh án. Ngày 05/3/2024, Trung tâm pháp y có Công văn số 91/TTPY-GĐTH và Công văn số 92/TTPY-GĐTH từ chối giám định với lý do không có đối tượng giám định.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 01/6/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B lập, thể hiện: Hiện trường ghi nhận khu vực xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt lộ nhựa bằng phẳng rộng 7m, tầm nhìn thông thoáng, có vạch sơn nét đứt màu vàng phân chia hai chiều đường xe chạy, phương tiện lưu thông qua lại nhiều. Ghi nhận việc đánh số thứ tự: Số (1) vật rơi số 1, số (2) vật rơi số 2, số (3) vùng vật rơi số 1, số (4) vết cày, số (5) ô tô tải 66H-030.19, số (6) vết trượt, số (7) mô tô 66F1-394.97, số (8) nạn nhân, số (9) ô tô tải 68C-022.07, số (10) vùng vật rơi số 2.

Chọn điểm Km 27 bên trái hướng đi Đ làm điểm mốc. Chọn mép đường bên phải của phần đường bên phải hướng đi Đ làm lề chuẩn. Hiện trường được khám nghiệm theo hướng huyện T về huyện Đ cụ thể như sau:

Vật rơi số 1 là mảnh kính lái ô tô đã vỡ, nằm ở phần đường bên trái hướng đi Đ, trên mảnh kính lái có dán tem kiểm định ô tô 66H-030.19, tâm mảnh kính cách lề chuẩn 6m75 và cách tâm vật rơi số 2 là 7m30.

Vật rơi số 2 là áo lót ghế ngồi màu nâu, nằm ở phần đường bên trái hướng đi Đ, tâm vật rơi số 2 cách lề chuẩn 5m85 và cách tâm vùng vật rơi số 1 là 7m90.

Vùng vật rơi số 1 gồm nhiều mảnh vỡ màu trắng, gương vỡ, cần gạt nước màu đen nằm ở phần đường bên trái hướng đi Đ. Vùng vật rơi số 1 không rõ hình dáng có kích thước (4m40x1m90), tâm vùng vật rơi số 1 cách lề chuẩn 4m65 và cách đầu vết cày 2m70.

Vết cày liền nét nằm ở phần đường bên trái hướng đi Đ, vết cày được tạo ra do vành bánh xe trước bên trái ô tô 66H-030.19 vỡ ma sát xuống mặt đường, đầu vết cày cách lề chuẩn 4m20, kéo dài 3m90 về hướng Đ, cuối vết cày nằm tại vị trí bánh xe trước bên trái ô tô tải 66H-030.19.

Xe ô tô tải 66H-030.19 nằm ở phần đường bên trái hướng đi Đ, đầu xe hướng về T, đuôi xe hướng ngược lại, tâm trục bánh xe trước bên trái cách lề chuẩn 6m40, tâm trục bánh xe sau bên trái cách lề chuẩn 6m70, tâm trục bánh xe sau bên trái cách tâm trục bánh xe trước mô tô 66F1-394.97 là 1m85 và cách đầu vùng vật rơi số 2 là 1m80; tâm trục bánh xe sau bên phải cách tâm trục bánh xe sau bên trái ô tô 68C-022.07 là 14m50.

Vết trượt liền nét nằm ở phần đường bên phải kéo dài qua lề trái hướng Đ, đầu vết trượt cách lề chuẩn 2m00 và cách đầu vết cày 4m25. Vết trượt rộng 0m60, kéo dài 23m30 về hướng Đ, cuối vết trượt nằm tại vị trí bánh xe sau bên phải ô tô tải 68C-022.07.

Xe mô tô 66F1-394.97 nằm ở phần đường bên trái hướng đi Đ, xe ngã sang phải đầu xe hướng về T, đuôi xe hướng ngược lại, tâm trục bánh xe trước, sau cách lề chuẩn lần lượt là 6m45, 6m95, tâm trục bánh sau cách điểm gần chân trái nạn nhân là 1m15.

Nạn nhân nam nằm ngửa, nằm ngoài phần đường bên trái hướng đi Đ, đầu nạn nhân hướng lệch về T và cách lề chuẩn 8m90, chân nạn nhân hướng ngược lại, điểm cuối chân trái nạn nhân cách lề chuẩn 7m30.

Xe ô tô tải 68C-022.07 nằm ngoài phần đường bên trái hướng đi Đ, đầu ôtô tải hướng lệch về Đ, đuôi xe hướng ngược lại, tâm trục bánh xe trước cách lề chuẩn 19m85, tâm trục bánh xe sau cách lề chuẩn 15m10 và cách điểm mốc 40m.

Vùng vật rơi số 2 nằm ở lề trái của phần đường bên trái hướng đi Đ, vùng vật rơi số 2 gồm nhiều hạt nhỏ màu cam gạch, đầu vùng vật rơi cách lề chuẩn 6m75, kéo dài 3m95 về hướng Đ, cuối vùng vật rơi nằm tại chân trái nạn nhân và cách lề chuẩn 7m30.

Tại biên bản khám phương tiện đối với xe ô tô tải biển số 66H-030.19 ngày 01/6/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B lập, thể hiện: Kính lái phía trước vỡ, rời khỏi xe. Đầu cabin xe bên trái bị hư hỏng, móp thụn từ trước về sau, vùng móp thụn bị biến dạng có kích thước 1m80x1m40, tâm vùng móp thụn cách mặt đất 1m20. Đèn chiếu sáng bên trái, đèn tín hiệu trước bên trái bị hư hỏng. Đầu cảng bảo vệ phía trước bên trái cong thụn từ trước về sau. Cánh cửa trước bên trái bị hư hỏng, biến dạng từ trước về sau. Bánh xe trước bên trái bị mất hơi, vành bánh xe bị cong vành một phần, mặt dưới lốp bánh xe có vết ma sát. Mặt bên trái phần thùng xe phía sau cabin bị hư hỏng nặng, cong thụn từ trước về sau (kích thước vết thụn 2m60x1m90, tâm vết thụn cách mặt đất 1m90). Bồn nhiên liệu bên trái thùng xe bị rớt rời xuống đất, cản bảo vệ thân xe bên trái bị hư hỏng gãy rời. Trên cạnh thùng xe sau bên trái có vết xước kích thước 0m60x0m10, hướng từ trước về sau, tâm vết xước cách mặt đất 1m40. Phần thùng xe phía sau có vết lõm từ ngoài vào trong, vết lõm có kích thước 0m25x0m15, tâm vết lõm cách mặt đất 1m40. Cản bảo vệ phía sau cong thụn từ sau lên trước (vết cong thụn có kích thước 1m20x0m11, vết thụn sau 0m11), cong thụn phần biển số xe phía sau. Phương tiện bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Tại biên bản khám phương tiện đối với xe ô tô tải biển số 68C-022.07 ngày 01/6/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B lập, thể hiện: Kính lái phía trước vỡ, rời khỏi xe. Đầu canbin bên trái bị hư hỏng nặng, móp thụn từ trước về sau, vùng móp thụn bị biến dạng có kích thước 1m90x0m80, tâm vùng móp thụn cách mặt đất 1m40. Vỡ đèn chiếu sáng bên trái, đèn tín hiệu trước bên trái. Vết xước trên bánh trước bên trái kích thước 0m50, tâm vết xước cách trục bánh xe 0m45. Mặt ngoài vành bánh xe trước bên trái có vết ma sát màu đen kích thước 0m50. Phần thân xe bên trái móp thụn từ trước về sau (kích thước 5m20 x 0m90), tâm vết xước cách mặt đất 0m80. Vè chắn bùn bánh xe sau bên trái móp thụn từ trước về sau. Mặt ngoài lốp bánh xe sau bên trái có vết ma sát (kích thước 0m50 x 0m06), tâm vết ma sát cách trục bánh xe 0m45. Đèn tín hiệu thân xe bên trái bị gãy rời (số A, số C). Phương tiện bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Tại biên bản khám phương tiện đối với xe mô tô biển số 66F1-394.97 ngày 01/6/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B lập, thể hiện: Vỡ gương chiếu hậu. Vỡ ốp nhựa phần đầu xe, vỡ đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước, vỡ mặt nạ xe. Vỡ nhựa chắn bùn trước. Cong thụn hệ thống giảm sốc phía trước, hướng từ trước về sau. Cong biến dạng vành bánh xe trước. Cong thụn khung sườn xe hướng từ trước về sau. Đầu gác chân trước bên phải có vết mài mòn. Phương tiện bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKSBL ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Huỳnh Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn S hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn S về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Thời hạn tính từ ngày tuyên án. Ngoài ra không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Văn S.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử;

  • - Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn S 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Huỳnh Văn S do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/03/2023 có giá trị đến ngày 01/3/2028.
  • - 01 giấy kiểm định xe, 01 giấy đăng ký xe và 01 xe ô tô tải biển số 68C-022.07 do Phan Thị H3 đứng tên trong giấy đăng ký xe. Ngày 03/4/2023, Huỳnh Văn S mua lại xe của bà H3 có lập hợp đồng mua bán được công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, Cơ quan điều tra đã trả xe và giấy tờ cho bị cáo S xong nên không đề nghị xem xét.
  • - 01 xe mô tô biển số 66F1-394.97 do Nguyễn Thanh T đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, Cơ quan điều tra đã trả xe cho đại diện gia đình nạn nhân Nguyễn Thanh T là chị Trần Thị T1 (vợ anh T) xong nên không đề nghị xem xét.

  • - 01 xe ô tô tải biển số 66H-030.19 do chị Huỳnh Thị H2 là chủ sở hữu, đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị H2 xong nên không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Huỳnh Văn S đã thỏa thuận hỗ trợ tiền chi phí điều trị thương tích và tiền nghỉ dưỡng cho Tạ Thị Mỹ T4 với số tiền là 100.000.000 đồng, đại diện theo ủy quyền của chị T4 là anh Huỳnh Văn N2 đã nhận đủ, không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo Huỳnh Văn S đã hỗ trợ tiền chi phí mai táng cho gia đình Nguyễn Thanh T với số tiền là 30.000.000 đồng và hỗ trợ tiền sửa chữa xe mô tô biển số 66F1-394.97 với số tiền là 20.000.000 đồng; chủ xe 66H-030.19 chị Huỳnh Thị H2 đã hỗ trợ tiền mai táng cho Nguyễn Thanh T với số tiền là 30.000.000 đồng, đại diện cho nạn nhân anh Nguyễn Thanh T là vợ tên Trần Thị T1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Chị Huỳnh Thị H2 chủ xe ô tô tải biển số 66H-030.19 yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn S chủ xe ô tô tải biển số 68C-022.07 bồi thường tiền sửa chữa xe ô tô tải biển số 66H-030.19 với số tiền là 852.455.560 đồng, bị cáo Huỳnh Văn S mới bồi thường cho chị H2 số tiền 80.000.000đ, còn 772.455.560đ chưa bồi thường. Trước tòa chị H2 không yêu cầu bị cáo S bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Tô Văn H1 và Tạ Văn T3 không yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn S bồi thường tiền điều trị thương tích nên không đề nghị xem xét.

Lời nói cuối cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám phương tiện, Kết luận giám định tử thi số 112/KLGĐTT-TTPY ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y, Kết luận giám định độc chất số 617/701/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 16/6/2023 của P tại TP . - V, Bản kết luận định giá số 73/KL-HĐĐG ngày 27/9/2023; Bản kết luận định giá số 34/KL-HĐĐG ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 01/6/2023, bị cáo Huỳnh Văn S điều khiển xe ô tô tải biển số 68C-022.07 lưu thông trên QLN2 hướng từ huyện T đi huyện Đ khi đến Km 27+100m thuộc Ấp D, xã T, huyện B, do mệt nên bị cáo S điều khiển xe chuyển hướng sang bên trái phần đường hướng huyện Đ đi huyện T không đảm bảo an toàn để đến bãi đất trống phía trước nghỉ ngơi. Khi bánh xe trước bên trái xe 68C-022.07 đã qua vạch sơn giữa trung tim đường khoảng 40 cm trên phần đường hướng huyện Đ đi huyện T thì xe 66H-030.19 do Tô Văn H1 điều khiển chạy đến, do khoảng cách giữa hai xe quá gần dẫn đến phần đầu bên trái xe 68C-022.07 đụng vào phần đầu bên trái xe 66H-030.19, đẩy xe 66H-030.19 lùi về hướng huyện Đ một đoạn 3,9m va chạm tiếp xe mô tô biển số 66F1-394.97 do Nguyễn Thanh T điều khiển chở chị Tạ Thị Mỹ T4 chạy sau, tai nạn giao thông xảy ra. Hậu quả, anh T tử vong tại hiện trường, xe ô tô biển số 66H-030.19 bị hư hỏng nặng thiệt hại 852.455.560đ, xe mô tô biển số 66F1-394.97 bị hư hỏng, thiệt hại 11.820.000đ, tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 864.275.560đ; anh H1, chị T4, anh T3 bị thương từ chối giám định.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn S đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm của bị cáo Huỳnh Minh S1 rất nghiêm trọng ảnh hưởng đến tín mạng, sức khỏe, tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng tình hình trật tự an toàn giao thông. Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng trong lúc bị cáo Huỳnh Văn S điều khiển xe ô tô tải biển số 68C-022.07 đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ khi chuyển làn đường xe không chú ý quan sát dẫn đến gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả, anh T tử vong tại hiện trường, xe ô tô biển số 66H-030.19, xe mô tô biển số 66F1-394.97 bị hư hỏng, anh H1, chị T4, anh T3 bị thương.

Từ những phân tích trên xét thấy hành vi của bị cáo Huỳnh Văn S đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn S cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp tương xứng mức độ hành vi mà bị cáo gây ra mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Huỳnh Văn S có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho đại diện gia đình nạn nhân Nguyễn Thanh T, bồi thường tiền điều trị thương tích cho chị Tạ Thị Mỹ T4, bồi thường một phần tiền sửa chữa xe ô tô tải 66H-030.19 cho chị Huỳnh Thị H2, đại diện gia đình anh T có vợ là chị Trần Thị T1 và chị Huỳnh Thị H2 có đơn bãi nại, tại phiên tòa chị H2 xin cho bị cáo S được hưởng án treo; ngoài ra, một số hộ dân tại địa phương gửi đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo trình bày hoàn cảnh gia đình bị cáo S rất khó khăn là lao động chính có 06 nhân khẩu, bị cáo nuôi hai con nhỏ sinh năm 2000 và năm 2023, vợ sức khỏe không tốt, cha mẹ già thường xuyên đau bệnh và còn đang nuôi dưỡng người dì mắc bệnh tâm thần được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét thấy bị cáo Huỳnh Văn S có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Văn S còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Huỳnh Văn S phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • - Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn S 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Huỳnh Văn S do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/03/2023 có giá trị đến ngày 01/3/2028.
  • - 01 giấy kiểm định xe, 01 giấy đăng ký xe và 01 xe ô tô tải biển số 68C-022.07 do Phan Thị H3 đứng tên trong giấy đăng ký xe. Ngày 03/4/2023, bị cáo Huỳnh Văn S mua lại xe của bà H3 có lập hợp đồng mua bán được công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, Cơ quan điều tra đã trả xe và giấy tờ cho bị cáo S xong nên không xem xét.
  • - 01 xe mô tô biển số 66F1-394.97 do Nguyễn Thanh T đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, Cơ quan điều tra đã trả xe cho đại diện gia đình nạn nhân Nguyễn Thanh T là chị Trần Thị T1 (vợ anh T) xong nên không xem xét.
  • - 01 xe ô tô tải biển số 66H-030.19 do chị Huỳnh Thị H2 là chủ sở hữu, đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe, hiện Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị H2 xong nên không xem xét.

[8]. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Huỳnh Văn S đã thỏa thuận hỗ trợ tiền chi phí điều trị thương tích và tiền nghỉ dưỡng cho Tạ Thị Mỹ T4 với số tiền là 100.000.000 đồng, đại diện theo ủy quyền của chị T4 là anh Huỳnh Văn N2 đã nhận đủ, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Bị cáo Huỳnh Văn S đã hỗ trợ tiền chi phí mai táng cho gia đình Nguyễn Thanh T với số tiền là 30.000.000 đồng và hỗ trợ tiền sữa chữa xe mô tô biển số 66F1-394.97 với số tiền là 20.000.000 đồng; chủ xe 66H-030.19 chị Huỳnh Thị H2 đã hỗ trợ tiền mai táng cho Nguyễn Thanh T với số tiền là 30.000.000 đồng, đại diện cho nạn nhân anh Nguyễn Thanh T là chị Trần Thị T1 (vợ anh T) đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Chị Huỳnh Thị H2 chủ xe ô tô tải biển số 66H-030.19 yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn S chủ xe ô tô tải biển số 68C-022.07 bồi thường tiền sửa chữa xe ô tô tải biển số 66H-030.19 với số tiền là 852.455.560 đồng, bị cáo Huỳnh Văn S mới bồi thường cho chị H2 số tiền 80.000.000đ, còn 772.455.560đ chưa bồi thường. Trước tòa chị H2 không yêu cầu bị cáo S bồi thường nên không xem xét.

Anh Tô Văn H1 và Tạ Văn T3 không yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn S bồi thường tiền điều trị thương tích nên không xém xét.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Huỳnh Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

    Xử phạt:

    Bị cáo Huỳnh Văn S 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Huỳnh Văn S về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo S có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo Huỳnh Văn S thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
    • - Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn S 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Huỳnh Văn S do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/03/2023 có giá trị đến ngày 01/3/2028.

    (Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Huỳnh Văn S nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  5. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức; B
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện B;
  • - Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger