|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HS-ST
Ngày: 07-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Đỗ Minh và Nguyễn Văn Kiểm
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyếtđưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Công L, sinh ngày 05 tháng 2 năm 1984 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Công L1 và bà Quản Thị L2; có vợ là Lưu Thị T và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 05/3/2024 đến ngày 14/03/2024 Cơ quan điều tra ra Quyếtđịnh khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can.
Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ, (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Chị Hoàng Thị Thúy N, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, ( Chị N có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Công L sinh năm 1984, HKTT: Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ có quen biết với chị Hoàng Thị Thúy N, sinh năm 1980, trú tại: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, từ tháng 7 năm 2023. Sau đó một thời gian giữa L và
chị N đã có tình cảm với nhau dù biết chị N đã có gia đình. L và chị N thường hẹn gặp nhau ở nhà nghỉ để quan hệ tình dục. Những lần quan hệ tình dục L đã chụp lại những hình ảnh chị N không mặc quần áo. Khi không gặp nhau trực tiếp thì L và chị N nhắn tin, gọi điện video nhìn thấy hình ảnh nhạy cảm của nhau có lúc là không mặc quần áo, có lúc gọi video cho nhau trong lúc chị N đang tắm qua ứng dụng Zalo và M. Trong thời gian quan hệ tình cảm với chị N, L đã tự nguyện mua quà tặng chị N là đồ dùng, tài sản như: Quần áo, túi xách, giày dép có giá trị. Đến cuối tháng 02/2024 do chị N sợ bị chồng phát hiện việc chị và L có quan hệ tình cảm nên chị N đã nói với L muốn chia tay nhưng L không đồng ý. L còn yêu cầu chị N phải chuyển cho L số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), nếu không chuyển thì L sẽ nhắn tin đe dọa, thách thức sẽ đưa những hình ảnh nhạy cảm của chị N mà L đã chụp được trước đó trong những lần cả hai gặp nhau tại nhà nghỉ gửi cho chồng, cho những người thân gia đình, bạn, hàng xóm của chị N biết. Do không có số tiền lớn để chuyển cho L nên chị N chưa chuyển tiền, L thấy chị N chưa chuyển tiền nên từ ngày 24/02/2024 đến ngày 02/3/2024 L đã liên tục sử dụng ứng dụng Zalo trên điện thoại di động với tài khoản có tên “Luận Lãng Tử” đăng ký bằng số điện thoại 0968.806.xxx của L nhắn tin đến tài khoản Zalo của chị N có tên “Hoàng Ngân” đăng ký bằng số điện thoại 0977.963.xxx với nhiều tin nhắn đe dọa chị N như: “Nếu em không chuyển tiền anh sẽ cho xã hội đến nhà em để gặp em, anh sẽ in ảnh của em trong những lần mình đi nhà nghỉ dán cổng nhà em, gửi ảnh khỏa thân cho người nhà, hàng xóm của em...” nhằm để uy hiếp, đe dọa tinh thần làm chị N hoảng sợ, phải chuyển tiền cho L. Thấy L nhắn nhiều tin nhắn đe doạ nên chị N nhắn lại xin L không nhắn tin làm phiền và không được đưa hình ảnh, video nhạy cảm giữa chị và L cho chị cho và cho người thân của chị N và không đưa lên mạng xã hội, chị N cần thêm thời gian để lo tiền chuyển cho L nhưng L vẫn liên tục có nhiều tin nhắn đe doạ uy hiếp tinh thần chị N.
Ngày 26/02/2024 sau nhiều lần nhắn tin, gọi điện yêu cầu chị N chuyển tiền cho L nhưng chị N không chuyển nên L đã gửi tin nhắn là những hình ảnh chị N không mặc quần áo trong phòng của nhà nghỉ khi đi cùng L, gửi hình ảnh L và chị N gọi điện thoại hình ảnh cho nhau khi chị N tắm khỏa thân và tiếp tục đe dọa chị N nếu chị N vẫn không chuyển tiền thì L sẽ gửi ảnh và video clip L và chị N quan hệ tình dục cho người thân, bạn và hàng xóm chị N biết. Luận nhắn tin cho chị N số tài khoản ngân hàng nhưng không thấy chị N chuyển tiền, L lại tiếp tục nhắn tin đe doạ, gây sức ép. Do lo sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và danh dự của bản thân nên khoảng 10 giờ 55 phút ngày 27/02/2024 chị N đã chuyển 10.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của chị N mở tại Ngân hàng S đến tài khoản số 0968806799 của L mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M1) với nội dung “HOANG THI THUY NGAN chuyển tiền”. Sau khi chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng của L thì chị N chụp lại hình ảnh chuyển khoản thành công gửi tin nhắn Zalo cho L biết. Khi nhận được 10.000.000 đồng L vẫn thấy chưa đủ số tiền L yêu cầu nên L lại tiếp tục nhắn tin, gọi điện cho chị N với nhiều lời nói đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm gây sức ép cho chị N. Luận đe dọa và yêu cầu chị N phải chuyển thêm cho L số tiền 50.000.000 đồng nếu chị N không chuyển thì L đe dọa sẽ cho xã hội đến nhà chị N để tìm và L sẽ đưa ảnh nhạy cảm của chị N lên mạng xã hội. Do lo sợ và muốn chấm dứt việc làm phiền, nên vào 11 giờ 35 phút ngày 02/3/2024 chị N đã chuyển 50.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của chị N mở tại Ngân hàng S đến tài khoản số 0968806799 của L. Sau khi chuyển số tiền 60.000.000 đồng cho L, L nhắn tin cho chị N từ nay sẽ không làm phiền đến cuộc sống của chị và không gửi ảnh, video nhạy cảm giữa L với chị N nữa. Do chị N vẫn lo sợ L sẽ tiếp tục đòi tiền nên ngày 05/3/2024 chị N đã đến Công an thành phố V để trình báo sự việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V tiến hành xác minh, làm rõ và triệu tập Trần Công L đến trụ sở Công an làm việc. Tại Cơ quan điều tra L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên đồng thời giao nộp chiếc điện thoại di động kèm sim số 0986806799 trong máy L dùng để nhắn tin đe doạ chị N.
Ngày 06/5/2024 Trần Công L đã nộp lại số tiền 60.000.000 đồng đã chiếm đoạt của chị N cho Cơ quan CSĐT để khắc phục hậu quả cho chị N. Ngày 17/05/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho chị N. Chị N đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho L, không đề nghị Luận phải bồi thường khoản tiền gì khác.
Vật chứng thu giữ còn lại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen đã qua sử dụng, số Imeil: 359871977596544, số Imei2: 359871977552471 kèm sim số trong máy số 0986806799. Đây là chiếc điện thoại L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V.
Tại bản Cáo trạng số: 74/CT-VKSTP-VT, ngày 02 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Trần Công L về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”
*Về hình phạt: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 170; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- - Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Công L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promaxđen đã qua sử dụng, số Imeil: 359871977596544, số Imei2: 359871977552471 thu giữ trong vụ án là công cụ phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0986.806.xxx của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.
*Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Công L phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị hại giữ nguyên lời khai của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Trần Công L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ ngày 24/2/2024 đến ngày 02/3/2024, Trần Công L đã nhiều lần nhắn tin đe dọa sẽ đưa hình ảnh nhạy cảm, video clip quan hệ tình dục giữa L và chị Hoàng Thị Thúy N cho người thân và đưa lên mạng xã hội để uy hiếp tinh thần chị Hoàng Thị Thúy N nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của chị N. Do lo sợ nên ngày 27/02/2024 chị N đã chuyển khoản cho L số tiền 10.000.000 đồng và ngày 02/3/2024 chị N đã chuyển khoản cho L số tiền 50.000.000 đồng. Như vậy, Trần Công L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cưỡng đoạt tài sản với số tiền là 100.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Công L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Điều luật được quy định cụ thể như sau:
“1.Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng...”.
[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội; về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
[3.1]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng những hình ảnh riêng tư của người khác để đe dọa, uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt của bị hại là chị Hoàng Thị Thúy N số tiền 100.000.000 đồng và bị cáo đã chiếm đoạt được 60.000.000 đồng của bị hại.
[3.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại cho bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại là chị Hoàng Thị Thúy N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và Bố đẻ của bị cáo là ông Trần Công L1 được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.4]. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt. Trước lần phạm tội chưa bị xét xử về hành vi phạm tội nào khác và chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản với số tiền 100.000.000 đồng của chị Hoàng Thị Thúy N. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó: có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 2 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, HĐXX xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng, nên cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo là phù hợp với pháp luật.
[4]. Về hình phạt:
- - Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Công L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là phù hợp.
- - Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- - Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen đã qua sử dụng, số Imeil: 359871977596544, số Imei2: 359871977552471 thu giữ của bị cáo. Xét thấy bị cáo đã sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 phôi sim số 0986806799 của bị cáo L do không còn giá trị sử dụng nên cần phải tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 60.000.000 đồng chị N đã chuyển cho L. Ngày 17/5/2024 cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho chị N. Chị N đã nhận lại và không đề nghị Luận phải bồi thường khoản tiền gì khác nên cần được xác nhận.
[6]. Về các vấn đề khác:
[6.1]. Đối với hành vi của Trần Công L và chị Hoàng Thị Thúy N có quan hệ tình cảm với nhau, khi chị N đang có chồng hợp pháp đã trái với đạo đức xã hội nhưng xét thấy L và chị N chỉ có quan hệ yêu đương, không chung sống với nhau như vợ chồng, chị N hiện vẫn đang chung sống cùng với chồng. Xét thấy, hành vi của L và chị N chưa cấu thành “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo Điều 182 Bộ luật Hình sự, cũng chưa đến mức xử phạt vi phạm hành chính nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[6.1]. Đối với hành vi Luận chụp ảnh chị N khi chị không mặc quần áo và quay video khi L và chị N quan hệ tình dục, quá trình điều tra, L khai nhận vì yêu chị N nên L đã chụp ảnh và quay video để lưu giữ trong máy điện thoại khi L nhớ đến chị N thì L sẽ mở ra xem. Khi chị N muốn chấm dứt quan hệ tình cảm với L nên L bực tức rồi gửi ảnh chụp và video trên gửi tin nhắn cho chị N nhằm mục đích đe doạ, uy hiếp tinh thần, gây sức ép buộc chị N phải chuyển tiền cho L. Ngoài gửi ảnh và video quan hệ tình dục cho chị N thì L chưa gửi cho ai, chưa đăng lên mạng xã hội. Hành vi của L không cấu thành tội “Làm nhục người khác” theo Điều 155 Bộ luật Hình sự và cũng không cấu thành tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ” theo Điều 326 Bộ luật Hình sự nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Công L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Căn cứ Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Công L phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Công Luận 3 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Trần Công L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp bị cáo Trần Công L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- - Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V đã trả lại cho chị Hoàng Thị Thúy N số tiền 60.000.000 đồng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 17/5/2024.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen đã qua sử dụng, số Imeil: 359871977596544, số Imei2: 359871977552471 của bị cáo L;
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0986.806.xxx của bị cáo L;
- (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
- Án phí: Buộc bị cáo Trần Công L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, đóng dấu) |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Công Luận cưỡng đoạt tài sản
