Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày 06/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;

Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Minh Đ, sinh năm 2001; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố: Chưa xác định và con bà Tạ Thị T, sinh năm 1962; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Bản án số: 219/2021/HS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 15/02/2019, Chủ tịch UBND xã T xử phạt hành chính giáo dục tại xã, phường 03 tháng.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 12/12/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số nhà H, đường L, phường T, thành phố B (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị Thu G, sinh ngày 26/01/2006; nơi cư trú: Số nhà F, khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1992; nơi cư trú: Khu phố B, C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt);
  2. Ông Mai Xuân L, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số nhà E, phố M, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt);
  3. Ông Đỗ Đức H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số nhà A, đường N, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);
  4. Ông Nguyễn Sỹ M, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 18/11/2023 đến ngày 03/12/2023, Tạ Minh Đ đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố B và tỉnh Bắc Ninh, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 23.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Tạ Minh Đ có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị Thu G. Đ biết chị G có chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi màu xanh đen nên nảy sinh ý định chiếm đoạt.

Khoảng 15 giờ ngày 18/11/2023, Đ mượn điện thoại của 01 nam thanh niên không quen biết đi trên đường rồi nhắn tin cho chị G qua mạng xã hội Facebook hẹn đi lên cầu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đón Đ rồi đưa về nhà Đ để lấy tiền và chứng minh thư nhân dân thì chị G đồng ý. Một lúc sau, chị G điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi, không biển kiểm soát đi đến điểm hẹn gặp Đ đứng chờ tại đây. Khi gặp nhau, Đ bảo chị G đi cùng về nhà Đ để lấy tiền và chứng minh thư nhân dân. Sau đó, Đ điều khiển xe máy điện và chở chị G đi đến khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Đến nơi, Đ bảo chị G đứng chờ để Đ đi về nhà lấy chứng minh thư và tiền. Chị G tưởng thật nên đồng ý rồi xuống xe đứng chờ. Ngay sau đó, Đ điều khiển xe đi đến cửa hàng mua bán xe máy điện của ông Mai Xuân L để bán xe. Tại đây, Đ nói với ông L là xe của Đ đang muốn bán, ông L đồng ý mua và trả cho Đ 1.500.000 đồng. Chị G chờ lâu không thấy Đ quay lại nên gọi điện, nhắn tin nhưng không thấy Đ trả lời nên chị G ra về. Sau đó, ông L đã bán lại chiếc xe máy điện này cho người không quen biết.

Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐ ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi, đời 2022, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 18/11/2023 là 6.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị G yêu cầu bồi thường 6.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Tạ Minh Đ có quen biết anh Nguyễn Minh H, do đã có thời gian làm thuê tại quán cắt tóc của anh H.

Khoảng 16 giờ ngày 22/11/2023, Đ đến cửa hiệu cắt tóc của anh H chơi. Đ nhìn thấy anh H có để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B3-885.47, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Trong lúc nói chuyện, anh H rủ Đ đến cùng làm tại quán cắt tóc trong dịp tết Nguyên đán thì Đ đồng ý. Đ nói dối anh H cho mượn xe để về nhà lấy điện thoại và ví. Anh H đồng ý. Đ lấy chìa khóa xe rồi điều khiển xe đi về hướng thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Khi đi đến lò đốt rác H thuộc thôn Đ, xã H, huyện T thì Đ đi vào gặp anh Đỗ Đức H1 là người quen đang làm nhân viên bảo vệ tại đây. Đ rủ anh H1 đi cầm cố chiếc xe mô tô. Anh H1 không biết là xe do Đ phạm tội mà có nên đồng ý đi cùng. Đ chở anh H1 đến quán K, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Đ đi vào trong nhà gặp anh Nguyễn Ngọc C là quản lý quán hát và là người quen của Đ. Tại đây, Đ cầm cố chiếc xe mô tô này cho anh C để vay 4.000.000 đồng, hẹn mấy ngày sau sẽ đến chuộc xe. Sau đó, Đ đi ra ngoài cùng anh H1 đi về. Đ cho anh H1 500.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ ngày hôm sau, Đ quay lại gặp anh C hỏi mượn thêm 500.000 đồng vào tiền cầm chiếc xe mô tô thì anh C đồng ý cho vay số tiền trên. Đ cầm tiền rồi đi về sau đó sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 264/KL-HĐ ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen bạc, số máy: JA39E2710885, số khung: RLHJA3928NY213925, BKS 98B3-885.47, sản xuất năm 2022, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 22/11/2023 là 11.000.000 đồng.

Ngày 12/12/2023, anh C giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B3-885.47 do Đ mang đến cầm cố.

Ngày 22/12/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Minh H chiếc xe mô tô biển số 98B3-885.47. Anh H không yêu cầu bồi thường. Anh C khai do có quen biết Đ nên không yêu cầu bồi thường.

Vụ thứ ba: Buổi tối ngày 02/12/2023, Tạ Minh Đ mượn điện thoại của người không quen biết đi trên đường rồi nhắn tin cho chị Nguyễn Thị Thu G qua mạng xã hội Facebook hẹn buổi sáng ngày hôm sau gặp nhau tại chân cầu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nói chuyện để trả nợ thì chị G tưởng thật nên đồng ý.

Khoảng 08 giờ ngày 03/12/2023, Đ đi bộ đến chân cầu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đợi. Một lúc sau, chị G đi chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M133 mini đến nơi. Đ nảy sinh chiếm đoạt chiếc xe đạp điện nên rủ đi chơi thì chị G đồng ý. Đ điều khiển xe đạp điện đèo chị G đi quanh khu công nghiệp Đ H sau đó quay lại chân cầu Đ. Tại đây, Đ bảo chị G đứng chờ để Đ đi về nhà lấy tiền. Ngay sau đó, Đ điều khiển chiếc xe đạp điện của chị G đi đến lò đốt rác H thì Đ gặp anh Đỗ Đức H1 đang đứng nói chuyện cùng anh Nguyễn Sỹ M. Qua nói chuyện, Đ nói có chiếc xe đạp điện đang muốn bán. Anh M hỏi mua thì Đ đồng ý bán với giá 1.500.000 đồng. Anh M mua chiếc xe đạp điện này mục đích cho con gái sử dụng đi học. Sau đó do con gái anh M không không thích chiếc xe này nên anh M đã bán lại cho một người không quen biết.

Kết luận định giá tài sản số 22/KL-ĐGTSTTHS ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01(một) chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M113 mini, màu đen xanh, không biển kiểm soát đã qua sử dụng, có giá trị là 6.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị G yêu cầu bồi thường 6.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số: 78/CT-VKS ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Tạ Minh Đ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:

Bị cáo Tạ Minh Đ khai nhận toàn bộ hành vi như sau: Từ ngày 18/11/2023 đến ngày 03/12/2023, Tạ Minh Đ đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố B và tỉnh Bắc Ninh, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 18/11/2023, bị cáo nhắn tin cho chị G qua mạng xã hội Facebook hẹn đi lên cầu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đón Đ rồi đưa về nhà để lấy tiền và chứng minh thư nhân dân. Chị G đi xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi đi đến điểm hẹn. Bị cáo bảo chị G đi cùng về nhà lấy tiền và chứng minh thư nhân dân. Bị cáo điều khiển xe máy điện và chở chị G đi đến khu phố D, phường T, thành phố T. Bị cáo bảo chị G đứng chờ để bị cáo đi về nhà lấy chứng minh thư và tiền. Bị cáo điều khiển xe đi đến cửa hàng mua bán xe máy điện của ông Mai Xuân L để bán xe. Bị cáo nói với ông L là xe của bị cáo đang muốn bán, ông L đồng ý mua 1.500.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 22/11/2023, bị cáo đến cửa hiệu cắt tóc của anh H1 chơi. Bị cáo nhìn thấy anh H1 có để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ở cửa nhà nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Anh H1 rủ bị cáo đến cùng làm tại quán cắt tóc trong dịp tết. Bị cáo nói dối anh H1 cho mượn xe để về nhà lấy điện thoại và ví. Bị cáo điều khiển xe đi về lò đốt rác H thuộc thôn Đ, xã H, huyện T gặp anh Đỗ Đức H1 là người quen đang làm nhân viên bảo vệ. Bị cáo rủ anh H1 đi cầm cố chiếc xe mô tô tại quán K, phường T, thành phố T cho anh Nguyễn Ngọc C để vay 4.000.000 đồng, bị cáo cho anh H1 500.000 đồng.

Lần thứ ba: Buổi tối ngày 02/12/2023, bị cáo nhắn tin cho chị Nguyễn Thị Thu G qua mạng xã hội Facebook hẹn buổi sáng ngày hôm sau gặp nhau tại chân cầu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nói chuyện để trả nợ. Khoảng 08 giờ ngày 03/12/2023, tại chân cầu Đ, xã H, huyện T, chị G đi chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M133 mini đến. Bị cáo nảy sinh chiếm đoạt chiếc xe đạp điện nên rủ đi chơi thì chị G đồng ý. Bị cáo điều khiển xe đạp điện đèo chị G đi quanh khu công nghiệp Đ H sau đó quay lại chân cầu Đ. Tại đây, bị cáo bảo chị G đứng chờ để về nhà lấy tiền. Bị cáo điều khiển chiếc xe đạp điện của chị G mang đi đến lò đốt rác H thì Đ gặp anh Đỗ Đức H1 và anh Nguyễn Sỹ M. Sau đó, bị cáo bán chiếc xe đạp điện cho anh M với giá 1.500.000 đồng. Nay bị cáo thấy là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhất trí bồi thường cho chị G 12.000.000 đồng.

- Bị hại có lời khai xác định:

Anh Nguyễn Minh H: Ngày 22/11/2023, bị cáo đến cửa hiệu cắt tóc của anh chơi. Qua trò chuyện, anh thấy bị cáo không có công việc, nên rủ bị cáo đến cùng làm tại quán cắt tóc trong dịp tết. Sau đó bị cáo nói với anh cho mượn xe máy của anh có biển số 98B3-885.47 để về nhà lấy điện thoại. Nhưng sau nhiều ngày không thấy bị cáo đến trả lại xe, nên anh làm đơn trình báo đến cơ quan Công an. Nay, anh đã được Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 98B3-885.47. Anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Chị Nguyễn Thị Thu G: Bị cáo đã hai lần chiếm đoạt tài sản của chị, như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 18/11/2023, bị cáo nhắn tin cho chị qua mạng xã hội Facebook hẹn đi lên cầu Đ, xã H, huyện T đón bị cáo rồi đưa về nhà để lấy tiền và chứng minh thư nhân dân. Chị G điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi đi đến điểm hẹn. Sau đó, bị cáo điều khiển xe máy điện và chở chị G đi đến khu phố D, phường T, thành phố T. Đến nơi, bị cáo bảo chị đứng chờ để bị cáo đi về nhà lấy chứng minh thư và tiền. Sau đó không thấy bị cáo trả xe cho chị.

Lần thứ hai: Ngày 03/12/2023, bị cáo nhắn tin cho chị hẹn gặp nhau tại chân cầu Đ, xã H, huyện T nói chuyện để trả nợ. Sau khi đi học về, chị đến chân cầu Đ, xã H, huyện T, bằng chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M133 mini. Sau đó, bị cáo bảo chị đứng chờ và mượn xe của chị để về nhà lấy tiền, nhưng không thấy bị cáo trả xe cho chị, nên chị làm đơn trình báo đến cơ quan Công an. Nay chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị trị giá hai chiếc xe là 12.000.000 đồng.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lời khai xác định:

Ông Mai Xuân L: Ông đang kinh doanh cửa hàng mua bán xe máy điện tại số nhà E, phố M, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Ông không quen biết bị cáo Đ, qua xem xét sổ sách thì ngày 18/11/2023 ông có mua của anh Tạ Minh Đ xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi với giá 1.500.000 đồng. Khi mua ông không biết do bị cáo chiếm đoạt của người khác. Sau đó, ông đã bán lại cho người khác.

Anh Đỗ Đức H1: Buổi chiều ngày 22/11/2023, bị cáo Đ có đến lò đốt rác Hoàn S gặp anh. Bị cáo rủ anh đi cầm cố chiếc xe mô tô tại quán K, phường T, thành phố T cho anh Nguyễn Ngọc C để vay 4.000.000 đồng, bị cáo cho anh H1 500.000 đồng.

Anh Nguyễn Ngọc C: Anh làm quản lý tại quán K, phường T, thành phố T và anh có quen biết bị cáo Đ. Anh không nhớ thời gian cụ thể, nhưng có lần anh có nhận cầm cố chiếc xe máy biển số 98B3-885.47 của bị cáo và cho bị cáo vay 4.000.000 đồng. Ngày 12/12/2023, anh đã giao nộp cho cơ quan điều tra chiếc xe này. Nay anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh.

Ông Nguyễn Sỹ M: Ngày 03/12/2023, anh đến lò đốt rác H thì gặp anh Đỗ Đức H1 trò chuyện. Khoảng 9 giờ, thì bị cáo đến và nói có chiếc xe đạp điện đang muốn bán. Anh hỏi mua thì bị cáo đồng ý bán với giá 1.500.000 đồng. Anh mua chiếc xe đạp điện này mục đích cho con gái sử dụng đi học. Sau đó do con gái anh không không thích chiếc xe này nên anh đã bán lại cho một người không quen biết.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Tạ Minh Đ từ 18 tháng đến 22 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 12/12/2024).
  2. Về trách nhiệm dân sự:
  3. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu G số tiền 12.000.000 đồng.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời khai, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh:

Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, bị hại, tài liệu khác, Hội đồng xét xử thấy: Tạ Minh Đ dùng thủ đoạn gian dối hỏi mượn xe máy, xe đạp điện của chị Nguyễn Thị Thu G và anh Nguyễn Minh H sau đó đem đi bán, cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Ngày 18/11/2023 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu G 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi trị giá 6.000.000 đồng.

Ngày 22/11/2023 tại số nhà H, đường L, phường T, thành phố B bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh H 01 chiếc xe mô tô Honda Wave biển số 98B3-885.47 trị giá 11.000.000 đồng.

Ngày 03/12/2023 tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu G 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M113 mini trị giá 6.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Tạ Minh Đ chiếm đoạt là 23.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sử hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ.

Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Tạ Minh Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng, đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Do đó, Cáo trạng số: 78/CT-VKS ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Tạ Minh Đ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo ba lần thực hiện hành vi lừa đảo tài sản và đã có một tiền án. Đây là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội, để giáo dục bị cáo theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là không có nghề nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu G yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 12.000.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

[7]. Các vấn đề khác: Đối với ông Mai Xuân L mua chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xmen Washi và anh Nguyễn Sỹ M mua chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M133 mini; anh Đỗ Đức H1 được Đ rủ đi cầm cố chiếc xe mô tô và anh Nguyễn Đức C1 nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3-885.47. Kết quả điều tra xác định những người nêu trên đều không biết là tài sản do Đ phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

[9]. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Tạ Minh Đ 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2023.
  2. 2. Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu G số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

  3. 3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Tạ Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an tp Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND phường Tam Sơn, tp Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Trần Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Minh Đức lừa đảo TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger