Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 05-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng

Ông Hoàng Công Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST - HS ngày C tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 110/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn K. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 22 tháng 12 năm 1981, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân K1 (đã chết) và bà Ngô Thị N (đã chết); anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ Trần Thị L và có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến ngày 02/01/2024 thì được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm Bắc Xuân, xã Diễn Xuân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
  2. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1979.(Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  3. Anh Nguyễn Thành N2, sinh năm 1976. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  4. Anh Ngô Sỹ N3, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  5. Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1982. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  6. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm Nam Xuân, xã Diễn Xuân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
  7. Anh Cao Văn V, sinh năm 1980. (Có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
  8. Chị Trần Thị L, sinh năm 1982. (Có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, Nguyễn Văn K nhận thấy nhiều người dân có nhu cầu vay tiền để làm ăn, nên đã nảy sinh ý định hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính, cụ thể như sau:

1.Giao dịch với anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979, trú tại xóm B, xã D, huyện D:

Vào ngày 19/7/2022, anh Nguyễn Văn H vay của Nguyễn Vân K 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108%/1 năm. Từ tháng 8/2022 đến tháng 10/2023 (15 tháng), anh H sử dụng số tài khoản: 0988211773 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M) của anh H chuyển 40.500.000 đồng tiền lãi của khoản vay trên vào số tài khoản: 104875184278/0971101123 của Ngân hàng thương mại cổ phần C (V2) của chị Trần Thị L (sinh năm 1982, là vợ K), trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 20% : 12 x 30.000.000 đồng x 15 = 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng). Trong tháng 10/2023, anh H đã trả hết số tiền gốc cho K bằng tiền mặt.

2. Giao dịch với chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1979, trú tại xóm L, xã D, huyện D:

Vào ngày 12/10/2022, chị Nguyễn Thị N1 vay của Nguyễn Văn K ngày 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108%/1 năm. Từ tháng 11/2022 đến tháng 9/2023 (11 tháng), chị N1 đến nhà trả tiền lãi trực tiếp cho K và sử dụng số tài khoản: 19031748347023 tài khoản Ngân hàng Thương mại Cổ phần K3 (T) của chị N1 chuyển tiền lãi vào số tài khoản: 104875184278/0971101123 tài khoản Ngân hàng V2 của chị Trần Thị L1, với tổng số tiền là 29.700.000 đồng (Hai mươi chín triệu bày trăm nghìn đồng); trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 20% : 12x 30.000.000 đồng x 11 = 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính là 24.200.000 đồng (Hai mươi tư triệu hai trăm nghìn đồng), cụ thể: Tháng 11/2022, chị N1 trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 12/2022, chị N1 trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 01/2023, chị N1 trả 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 02/2023, chị N1 trả 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 3/2023 và tháng 4/2023, mỗi tháng chị N1 trả 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Tháng 5/2023, chị N1 trả 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng bằng hình thức chuyển khoản và trả 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 6/2023, chị N1 trả 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Tháng 7/2023, chị N1 trả 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 8/2023, chị N1 chuyển khoản số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) để trả tiền lãi cho K. Do chị N1 chuyển thừa nên K đã đưa lại 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền mặt cho chị N1. Tháng 9/2023, chị N1 chuyển khoản số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để trả tiền lãi cho K. Do chị N1 chuyển thừa nên K đã đưa lại 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền mặt cho chị N1. Trong tháng 9/2023, chị N1 đã trả hết số tiền gốc của khoản vay trên cho K bằng tiền mặt.

3. Giao dịch với anh Nguyễn Thành N2, sinh năm 1976, trú tại xóm B, xã D, huyện D:

Vào tháng 02/2023, anh Nguyễn Thành N2 vay của Nguyễn Văn K 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108%/1 năm. Từ tháng 3/2023 đến tháng 11/2023 (09 tháng), anh N2 đến nhà trả tiền lãi trực tiếp cho K và sử dụng số tài khoản 0968707479, tài khoản Ngân hàng M của anh N2 để chuyển tiền vào số tài khoản 104875184278/0971101123 tài khoản Ngân hàng V2 của chị Trần Thị L, với tổng số tiền là 32.400.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng); trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 20% : 12 x 40.000.000 đồng x 9 = 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), số tiền thu lợi bất chính là 26.400.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), cụ thể: Tháng 3/2023, anh N2 trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Tháng 4/2023 và tháng 5/2023, mỗi tháng anh N2 trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Tháng 6/2023, anh N2 chuyển khoản số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) để trả tiền lãi. Do anh N2 chuyển thừa nên K và anh N2 thống nhất chuyển 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) sang tiền lãi của tháng sau. Tháng 7/2023, anh N2 trả 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản cho K. Từ tháng 8/2023 đến tháng 11/2023, mỗi tháng anh N2 trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Trong tháng 11/2023, anh N2 đã trả hết số tiền gốc của khoản vay trên cho K bằng tiền mặt.

4. Giao dịch với anh Ngô Sỹ N3, sinh năm 1974, trú tại xóm L, xã D, huyện D:

Vào tháng 01/2023, anh Ngô Sỹ N3 vay của Nguyễn Văn K 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108%/1 năm. Từ tháng 02/2023 đến tháng 11/2023 (10 tháng), anh N3 đến nhà trả tiền lãi trực tiếp cho K và sử dụng tài khoản Ngân hàng M của anh N3, số tài khoản: 0987226123888 chuyển tiền lãi vào số tài khoản: 104875184278/0971101123 tài khoản Ngân hàng V2 của chị Trần Thị L, với tổng số tiền là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng); trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 20% : 12 x 40.000.000 đồng x 10 = 6.666.667 đồng (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), số tiền thu lợi bất chính là 29.333.333 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), cụ thể: Tháng 02/2023, anh N3 trả 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng tiền mặt. Từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023, mỗi tháng anh N3 trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Tháng 6/2023, anh N3 nợ tiền lãi nên đến tháng 7/2023, anh N3 chuyển khoản số tiền 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) để trả tiền lãi tháng 6/2023 và tháng 7/2023 cho K. Do anh N3 chuyển thừa nên K đã đưa lại 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền mặt cho anh N3. Tháng 8/2023, anh N3 trả 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền trực tiếp cho K. Tháng 9/2023, anh N3 trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản cho K. Tháng 10/2023, anh N3 trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền trực tiếp cho K. Tháng 11/2023, anh N3 trả 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền trực tiếp cho K. Trong tháng 11/2023, anh N3 đã trả hết số tiền gốc của khoản vay trên cho K bằng tiền mặt.

5.Giao dịch với chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1982, trú tại xóm L, xã D, huyện D:

Vào tháng 02/2023, chị Phạm Thị Thu H1 vay của Nguyễn Văn K 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108 %/1 năm. Từ tháng 3/2023 đến tháng 11/2023 (09 tháng), chị H1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V2, số tài khoản: 106878096824/0364408002 của chị H1 để chuyển tiền lãi vào số tài khoản: 104875184278/0971101123 Ngân hàng V2 của chị Trần Thị L (mỗi tháng, chị H1 chuyển 900.000 đồng tiền lãi của khoản vay trên cho K); trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 20% : 12 x 10.000.000 đồng x 9 = 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính là 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng). Trong tháng 11/2023, chị H1 đã trả hết số tiền gốc cho K bằng tiền mặt.

6. Giao dịch với anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1979, trú tại xóm N, xã D, huyện D:

Vào tháng 9/2022, anh Nguyễn Văn S vay của Nguyễn Văn K 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) với lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108%/1 năm. Từ tháng 10/2022 đến tháng 8/2023 (11 tháng), anh S đến trả tiền lãi trực tiếp cho K và sử dụng tài khoản Ngân hàng V2 của anh S, số tài khoản: 109873178196 để chuyển tiền lãi cho K vào số tài khoản: 104875184278/0971101123 tài khoản Ngân hàng V2 của chị Trần Thị Lê v tổng số tiền là 19.800.000 đồng (Mười chín triệu tám trăm nghìn đồng); trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ Luật Dân sự là: 20%: 12 x 20.000.000 đồng x 11 = 3.666.667 đồng (Ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), số tiền thu lợi bất chính là 16.133.333 đồng (Mười sáu triệu một trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), cụ thể: Tháng 10/2022, anh Sơn trả 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng 10/2022 và tháng 11/2022 bằng hình thức chuyển khoản cho K. Tháng 12/2022, anh S chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để trả tiền lãi, do anh S chuyển thừa nên K đã đưa lại 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền mặt cho anh S. Tháng 01/2023 và tháng 02/2023, mỗi tháng anh S trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền mặt. Tháng 3/2023, anh S nợ tiền lãi nên đến tháng 4/2023, anh S chuyển khoản số tiền 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) và đưa 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền mặt để trả tiền lãi tháng 3/2023 và tháng 4/2023 cho K, Tháng 5/2023, anh S trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền mặt. Tháng 6/2023, anh S trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản cho K. Tháng 7/2023, anh Sơn trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền trực tiếp cho K. Tháng 8/2023, anh S trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản cho K. Trong tháng 8/2023, anh S đã trả hết số tiền gốc của khoản vay trên cho K bằng bằng tiền mặt.

7. Giao dịch với anh Cao Văn V, sinh năm 1980, trú tại xóm C, xã D, huyện D:

Vào tháng 3/2023, anh Cao Văn V vay của Nguyễn Văn K 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) với lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả tiền lãi theo tháng (Mỗi tháng thống nhất đều có 30 ngày), tương đương 108%/1 năm. Từ tháng 4/2023 đến tháng 10/2023 (07 tháng), anh V đến trả tiền lãi trực tiếp cho K và sử dụng tài khoản Ngân hàng M của anh V, số tài khoản: 0389498260 để chuyển tiền lãi vào số tài khoản: 104875184278/0971101123 tài khoản Ngân hàng V2 của chị Trần Thị Lê v tổng số tiền là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng), trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự là: 20% : 12 x 20.000.000 đồng x 7 = 2.333.333 đồng (Hai triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), số tiền thu lợi bất chính là 10.266.667 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), cụ thể: Tháng 4/2023, anh V trả 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền mặt. Tháng 5/2023, anh V trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền mặt. Tháng 6/2023, anh V trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Tháng 7/2023, anh V trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền mặt. Đầu tháng 9/2023, anh V trả 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền lãi của tháng 8/2023 bằng hình thức chuyển khoản cho K. Cuối tháng 9/2023, anh V trả 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và trả 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền lãi bằng hình thức đưa tiền mặt. Tháng 10/2023, anh V chuyển k số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để trả tiền lãi cho K. Do anh V chuyển thừa nên K đã đưa lại 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền mặt cho anh V. Trong tháng 10/2023, anh V đã trả hết số tiền gốc của khoản vay trên cho K bằng tiền mặt.

Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Văn K đã cho 07 (Bảy) người trên vay là 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng), thu lãi với tổng số tiền là 179.100.000 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu một trăm nghìn đồng). Trong đó số tiền thu lợi bất chính (số tiền lãi vượt mức 20%/năm) là 145.933.333 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); thu tiền lãi hợp pháp (= 20%/năm) phát sinh từ tội phạm là 33.166.667 đồng (Ba mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Ngày 27/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an N4 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K thu giữ: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY S9+, màu xanh dương, số sêri: R39K30J6X5, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng và mặt sau bị vỡ, trong điện thoại có lắp sim số 0971101123. 01 (Một) chiếc thẻ Ngân hàng V2, mang tên TRAN THI LE, số thẻ: 9704150123218409.

Tại bản cáo trạng số:73/CT-VKS-DC ngày 25/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn K về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Luận tội tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, điểm, điểmi, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo số tiền 30.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;

- Truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn K những khoản sau để nộp ngân sách Nhà nước:

+ Số tiền gốc cho 07 (Bảy) người vay (phương tiện phạm tội)là 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng) và tiền lãi hợp pháp (= 20%/năm) phát sinh từ tội phạm là 33.166.667 đồng (Ba mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Tổng truy thu từ bị cáo là 223.166.667 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

- Số tiền mà bị cáo thu lợi bất chính = Số tiền lãi vượt mức 20%/năm: Bị cáo đã trả lại cho 07 người vay số tiền thu lợi bất chính nên không xem xét.

- Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY S9+, màu xanh dương, số sêri: R39K30J6X5, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng và mặt sau bị vỡ, trong điện thoại có lắp sim số 09711011xxx thu của Nguyễn Văn K.

- Lưu hồ sơ vụ án chiếc thẻ Ngân hàng V2, mang tên TRAN THI LE, số thẻ: 9704150123218409.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, trên địa bàn huyện D, Nguyễn Văn K đã cho 7 người vay tiền với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương đương 108%/1 năm, cao hơn gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính 145.933.333 đồng, cụ thể: Anh Nguyễn Văn H vay 30.000.000 đồng, thu lợi bất chính 33.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị N1 vay 30.000.000 đồng thu lợi bất chính 24.200.000 đồng; Anh Nguyễn Thành N2 vay 40.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 26.400.000 đồng; Chị Phạm Thị Thu H1 vay 10.000.000 đồng thu lợi bất chính là 6.600.000 đồng; Anh Nguyễn Văn S vay 20.000.000 đồng thu lợi bất chính là 16.133.333 đồng; Anh Cao Văn V vay 20.000.000 đồng thu lợi bất chính là 10.266.667 đồng. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nói chung; làm cho người vay lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng; gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đủ điều kiện để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, khắc phục thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; gia đình có ông ngoại là liệt sỹ, bị cáo là người thờ cúng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, chưa cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để quyết định cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

[8]. Về nội dung liên quan khác: Đối với chị Trần Thị L (sinh năm 1982, trú tại xóm L, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) cho bị cáo Nguyễn Văn K mượn tài khoản Ngân hàng V2, số tài khoản: 104875184278/0971101123 đề thực hiện hành vi phạm tội nhưng chị L không biết. Do vậy, hành vi của chị Trần Thị L không đồng phạm với bị cáo.

[9]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Về biện pháp tư pháp:

- Số tiền gốc mà bị cáo Nguyễn Văn K dùng để cho 07 người vay (phương tiện phạm tội) là 190.000.000 đồng; 07 người vay đã trả tiền nợ gốc hết cho bị cáo.

- Số thu tiền lãi hợp pháp (= 20%/năm) phát sinh từ tội phạm mà bị cáo thu của 07 người vay tổng là 33.166.667 đồng (là tiền do phạm tội mà có).

Vì vậy, cần truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn K tổng số tiền là 223.166.667 đồng (trong đó số tiền cho vay gốc là 190.000.000 đồng + tiền lãi hợp pháp là 33.166.667 đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền thu lợi bất chính = số tiền lãi vượt mức 20%/năm mà bị cáo Nguyễn Văn K thu của 07 người vay, bị cáo đã trả lại cho 07 người vay và 07 người vay không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY S9+, màu xanh dương, số sêri: R39K30J6X5, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng và mặt sau bị vỡ, trong điện thoại có lắp sim số 09711011xxx thu của Nguyễn Văn K, là chiếc điện thoại mà bị cáo K sử dụng để liên lạc trao đổi về việc trả tiền gốc và tiền lãi của 07 người vay, đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 (Một) chiếc thẻ Ngân hàng V2, mang tên TRAN THI LE, số thẻ: 9704150123218409 mang tên chị Trần Thị Lê. Bị cáo Nguyễn Văn K sử dụng tài khoản Ngân hàng V2, số tài khoản: 104875184278/0971101123 để thực hiện hành vi phạm tội nhưng chị L không biết, chị L không yêu trả lại. Vì vậy, lưu hồ sơ vụ án chiếc thẻ Ngân hàng V2, mang tên TRAN THI LE, số thẻ: 9704150123218409.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 201; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
  • Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh và hình phạt:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/6/2024).

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã (phường) khi có yêu cầu. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về biện pháp tư pháp:

Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Nguyễn Văn K với số tiền 223.166.667 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Trong đó số tiền gốc cho 07 người vay (phương tiện phạm tội) là 190.000.000 đồng; tiền lãi hợp pháp (= 20%/năm) phát sinh từ tội phạm là 33.166.667 đồng.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY S9+, màu xanh dương, số sêri: R39K30J6X5, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng và mặt sau bị vỡ, trong điện thoại có lắp sim số 09711011xxx. (Vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 27/3/204 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).

- Lưu hồ sơ vụ án chiếc thẻ Ngân hàng V2, mang tên TRAN THI LE, số thẻ: 9704150123218409.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo, người có qlnvlq;
  • - UBND xã Diễn Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Có hình phạt bổ sung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger