|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG Bản án số: 83/2025/HSST Ngày 02/12/2025 |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời; cán bộ hưu trí
Bà Vũ Thị Lệ Thủy, cán bộ hưu trí
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tuấn Thanh Tứ- Kiểm sát viên.
Ngày 02/12/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2025/HSST ngày 11/11/2025 Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/HSST-QĐ ngày 17/11/2025 đối với bị cáo:
Lê Thành T (Còng); Sinh ngày: 10/02/1987, tại Quảng Nam nay là TP Đà Nẵng; CCCD số [...] cấp ngày 21/8/2022; Nơi ĐKNKTT: K N, tổ B, phường A, TP Đà Nẵng. Hiện trú tại: Phòng G khu C, tổ D, phường S, TP Đà Nẵng.Trình độ văn hoá: không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Quốc T1 (1956) và bà Lê Thị B (1957); vợ Lê Thị Hồng Đ (1989) có 02 con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2024
Tiền án:
- Ngày 20/3/2015, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 16/HSST);
- Ngày 01/7/2017, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà (cũ) xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 49/HSST);
- Ngày 12/11/2019, bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ (hành hung tẩu thoát), g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Bản án số 53/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2022, chấp hành xong nghĩa vụ về án phí ngày 29/10/2025, chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 26/7/2006, bị Công an quận S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;
- Ngày 28/9/2012, bị Công an phường P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;
- Ngày 05/6/2014 bị Công an phường A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;
- Ngày 17/10/2014 bị Công an phường N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt ngày 10/9/2025 đang được tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N. Có mặt.
* Bị hại: Nguyễn B1, sinh năm 2005. Trú tại: K L, phường A, TP Đà Nẵng. SĐT: 0788.645.xxx, vắng mặt
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Phước D, sinh năm 1993. Trú tại: K T, phường S, TP Đà Nẵng. SĐT: 0935.171.xxx, vắng mặt
- Bà Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1987. Trú tại: phòng G nhà C, phường S, TP Đà Nẵng. SĐT: 0795.137.xxx, vắng mặt
- Ông Lê Minh T2, sinh năm 1992. Trú tại: K N, tổ 02a, phường A, TP.Đà Nẵng. SĐT: 0905.424.xxx, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/7/2025, Lê Thành T (SN: 1987; trú tại: P Nhà C, phường S, TP.Đà Nẵng) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ mang BKS 434E1-408.30 rảo quanh các tuyến đường trên địa bàn phường A, xem ai sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp.
Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, T đi đến dãy trọ tại số K L, phường A, TP.Đà Nẵng, phát hiện phòng trọ của anh Nguyễn B1 (SN: 2005; trú tại: K L, phường A, TP.Đà Nẵng) không khoá cửa nên T đi vào trong rồi đi lên gác lửng để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi lên gác lửng, T thấy anh B1 đang nằm ngủ, ở cạnh đầu bên phải của anh B1 có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám và 01 túi xách màu đen nên T dùng tay trái lấy điện thoại di động, tay phải lấy túi xách màu đen. Sau khi T cầm tài sản quay lưng đi về hướng cầu thang xuống gác lửng thì anh B1 nghe tiếng động nên tỉnh dậy phát hiện và truy hô. Lúc này, T bỏ chạy xuống dưới, vứt túi xách đang cầm ở tay phải trước cửa bên ngoài phòng trọ (trong túi xách không có tài sản gì), tay trái vẫn cầm điện thoại ngồi lên xe máy bỏ chạy. Chạy được một đoạn thì T bỏ điện thoại vào trong túi quần bên trái và đi về nhà.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T mang điện thoại nói trên đến cửa hàng Đ1 (địa chỉ: A N, phường S, TP.Đà Nẵng) bán cho anh Phan Phước D (SN: 1993; trú tại: K T, phường S, TP.Đà Nẵng) với số tiền 3.700.000 đồng (khi bán điện thoại, T nói với anh D điện thoại này T nhặt được, bị hư nên cần bán xác điện thoại, anh D không biết chiếc điện thoại này do T trộm cắp được). Sau khi bán được điện thoại, T tiêu xài cá nhân hết 1.930.000 đồng, còn lại 1.770.000 đồng.
Đến ngày 31/7/2025, T bị Công an phường A triệu tập làm việc, tại đây T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tang vật tạm giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ mang BKS 434E1-408.30; số tiền 1.770.000 đồng; 01 áo khoác màu đỏ đen; 01 quần Jeans màu xanh; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu xám xi măng (do T giao nộp).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám, số Imei: 353629301829411 (do anh D giao nộp).
- 02 đoạn video có tên: Doanphim1.mp4, có thời lượng 04 phút 46 giây và Doanphim2.mp4, có thời lượng 53 giây (do anh B1 giao nộp).
Qua điều tra xác định: xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ mang BKS 434E1-408.30 thuộc sở hữu của chị Lê Thị Hồng Đ (SN: 1987; trú tại: P Nhà C, phường S, TP.Đà Nẵng) là vợ của T. Xe này do em trai của chị Đ là anh Lê Minh T2 (SN: 1992; trú tại: K N, phường A, TP.Đà Nẵng) cho chị Đ làm phương tiện đi lại từ năm 2017. Sau đó, chị Đ đưa cho T làm phương tiện đi lại. Việc T sử dụng xe này đi trộm cắp tài sản, chị Đ không biết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 76/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng xác định: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám, số Imei: 353629301829411 đã qua sử dụng trị giá 17.667.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSST ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS; điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo từ 2 năm 6 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Phan Phước D số tiền 3.700.000 đồng.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video có tên: Doanphim1.mp4, thời lượng 04 phút 46 giây và Doanphim2.mp4, thời lượng 53 giây ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án ;
- Quy trữ để đảm bảo thi hành án số tiền: 1.770.000 đồng tiền (một triệu, bảy trăm bảy mươi bảy ngàn đồng). Đã được nộp vào Tài khoản Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Số tài khoản: 3949.0.1054137.00000, mở tại Kho bạc NN khu vực XIII; mã kho bạc: 0161 ngày 17/11/2025);
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đỏ đen, 01 quần Jeans màu xanh, 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu xám xi măng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/7/2025 Lê Thành T nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài nên đã điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ mang BKS 434E1-408.30 rảo quanh các tuyến đường trên địa bàn phường A, xem ai sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp. Khi đi đến dãy trọ tại số K L, phường A, TP.Đà Nẵng, phát hiện phòng trọ của anh Nguyễn B1 (SN: 2005; trú tại: K L, phường A, TP.Đà Nẵng) không khoá cửa nên T đi vào trong rồi đi lên gác lửng để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi lên gác lửng, T thấy anh B1 đang nằm ngủ, ở cạnh đầu bên phải của anh B1 có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám và 01 túi xách màu đen trị giá 17.667.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 12/11/2019, Lê Thành T bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ (hành hung tẩu thoát), g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2022, chấp hành xong nghĩa vụ về án phí ngày 29/10/2025, chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự nên chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản nay nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục thực hiện hành trộm cắp tài sản nên cần phải xử phạt nghiêm. Nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục và ren đe phòng ngừa.
[4] Xét thấy quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền bán tài sản đã thu hồi được 1.770.000 đồng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 BLHS, Điều 589 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho chị anh Phan Phước D số tiền 3.7000.000 đồng
[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video có tên: Doanphim1.mp4, thời lượng 04 phút 46 giây và Doanphim2.mp4, thời lượng 53 giây ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án ;
- Quy trữ để đảm bảo thi hành án số tiền: 1.770.000 đồng tiền ( Đã được nộp vào Tài khoản Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: F N, phường H, TP Đà Nẵng. Số tài khoản: 3949.0.1054137.00000, mở tại Kho bạc NN khu vực XIII, phòng kế toán nhà nước; mã kho bạc: 0161 ngày 17/11/2025);
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đỏ đen, 01 quần Jeans màu xanh, 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu xám xi măng (là trang phục Tín mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản) do bị cáo không có nhu cầu nhận lại.
[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng buộc bị cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- - Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS;
- - Xử phạt: Lê Thành T 02 năm 6 tháng (hai năm sáu tháng) tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/9/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 BLHS, Điều 589 BLDS buộc bị cáo Lê Thành T phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phan Phước D số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực, Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi, theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên:
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video có tên: Doanphim1.mp4, thời lượng 04 phút 46 giây và Doanphim2.mp4, thời lượng 53 giây ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án ;
- Quy trữ để đảm bảo thi hành án số tiền: 1.770.000 đồng tiền (một triệu, bảy trăm bảy mươi bảy ngàn đồng). Đã được nộp vào Tài khoản Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: F N, phường H, TP Đà Nẵng. Số tài khoản: 3949.0.1054137.00000, mở tại Kho bạc NN khu vực XIII, phòng kế toán nhà nước; mã kho bạc: 0161 ngày 17/11/2025);
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đỏ đen, 01 quần Jeans màu xanh, 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu xám xi măng (là trang phục Tín mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản) do bị cáo không có nhu cầu nhận lại.
(Toàn bộ vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 18/11/2025 Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 Đà Nẵng đang tạm giữ)
- Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) buộc bị cáo phải chịu.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Riêng người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thanh Thủy |
Bản án số 83/2025/HSST ngày 02/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 83/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cắp Lê Thành T bị truy tố vè tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS
