|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/HS-ST Ngày: 12/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Phúc.
Ông Trần Minh Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Chanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Văn M, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1958; gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ bẩy; vợ là Đỗ Thị H, sinh năm 1998 và có 03 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2025 đến ngày 14/3/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Trịnh Văn T2, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 12 tháng 02 năm 2025, Công an xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh tổ chức tuần tra đảm bảo an ninh trên địa bàn xã, phát hiện tại khu vực xóm T, thôn Đ, xã Đ, huyện G có 02 đối tượng là Ngô Văn M, sinh năm 1991 nơi thường trú: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và Trịnh Văn T2, sinh năm 1991 cùng quê với M có dấu hiệu sử dụng súng hơi bắn chim. Khi lực lượng Công an xã đến thì M cầm theo súng bỏ chạy, T2 được đưa về Công an xã Đ làm việc. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, Ngô Văn M tự đến Công an xã Đ, khai nhận hành vi tàng trữ súng và giao nộp cho Cơ quan Công an 01 (một) khẩu súng hơi bằng kim loại màu đen, có kích thước dài 98 cm, tay cò nhựa màu đen, báng súng bằng kim loại màu đen, trên thân súng có dòng chữ Super X màu trắng, có gắn 01 ống ngắm kim loại hình trụ tròn chiều dài 32 cm, có 01 bình nén khí màu xanh lá cây chiều dài 31 cm. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong khẩu súng trên theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G ra Quyết định trưng cầu giám định số 94/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định khẩu súng mà Ngô Văn M đã giao nộp, xác định có phải là vũ khí quân dụng không?
Tại Bản Kết luận giám định số 517/KL-KTHS, ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh B, Kết luận:
Mẫu vật gửi giám định là súng nén khí, thuộc Phục lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024 TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ C”.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14 tháng 02 năm 2025, Ngô Văn M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đầu thú, khai nhận về hành vi tàng trữ, cất giấu khẩu súng nêu trên.
Quá trình điều tra, đã xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Khoảng tháng 8 năm 2024 (Mến không nhớ chính xác ngày), Ngô Văn M sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus và tài khoản Facebook có tên “Bảo Mến” của M, gõ tìm trong ô tìm kiếm của ứng dụng Facebook nội dung “mua súng bắn chim” thì thấy hiện ra nhiều tài khoản Facebook có nội dung rao bán súng bắn chim. Mến lựa chọn và đăng nhập vào 01 tài khoản Facebook có đăng nội dung trên (nay M không nhớ tên tài khoản Facebook đó là gì). Mến nhắn tin cho tài khoản Facebook đó qua ứng dụng M1, trao đổi muốn mua 01 khẩu súng hơi mục đích để săn bắn chim. Người bán súng giới thiệu cho M về loại súng hơi, bắn đạn bi sắt (loại đạn hình cầu, bằng kim loại) và gửi cho M hình ảnh các loại súng, đạn. Sau khi xem hình ảnh các loại súng thì M lựa chọn 01 khẩu súng có đặc điểm là khẩu súng hơi bằng kim loại màu đen, có kích thước dài 98 cm, tay cò bằng nhựa màu đen, báng súng bằng kim loại màu đen, trên thân súng có dòng chữ Super X màu trắng, có gắn 01 ống ngắm kim loại hình trụ tròn chiều dài 32 cm, có 01 bình nén khí màu xanh lá cây chiều dài 31 cm. Đây là loại súng nén khí, bắn đạn bi sắt hình cầu. Người bán trao đổi với M giá của khẩu súng là 7.000.000 đồng, được tặng 01 túi đạn có 100 viên, hình thức thanh toán bằng tiền mặt, nếu mua thì 03 ngày sau sẽ có người giao súng tận nơi theo địa điểm hẹn. M đồng ý và hẹn lấy súng vào buổi trưa tại khu B, làng V, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 03 ngày sau (M không nhớ chính xác ngày), vào buổi trưa, người bán súng gọi điện thoại cho M qua M1, bảo M ra địa điểm đã hẹn để nhận súng. M mang theo 7.000.000 đồng tiền mặt, khi đến điểm hẹn M gặp 02 người nam thanh niên đi trên 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ (M không nhớ biển kiểm soát), một người hỏi M “Có phải ra lấy hàng không”. Mến trả lời “phải”, người đó đưa cho M 01 bao tải dứa màu xanh lá cây, bên trong bao tải có đựng khẩu súng và 01 túi nilon bên trong chứa 100 viên đạn bằng kim loại, hình cầu, đường kính khoảng 0,4 cm. M cầm bao tải chứa súng, đạn, trả người thanh niên 7.000.000 đồng tiền mặt, hai nam thanh niên điều khiển xe đi. Mến mang bao tải dứa chứa súng, đạn về mở ra kiểm tra, sau đó M cất giấu bao tải chứa súng, đạn ở gầm tủ quần áo tại nhà M. Đến buổi tối ngày 12 tháng 02 năm 2025 M mang bao tải bên trong chứa khẩu súng đến khu đồng thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh cất giấu ở khu vực bãi rác với mục đích sử dụng để săn bắn chim. Sau đó M rủ Trịnh Văn T2, sinh năm 1991 ở cùng thôn đi săn bắn chim cùng. Khi đến khu vực bãi rác thôn Đ, xã Đ, huyện G, M đến vị trí cất giấu súng để lấy súng thì gặp lực lượng Công an nên cầm theo súng bỏ chạy. Quá trình bỏ chạy, M bị rơi mất túi nilon bên trong chứa các viên đạn M để trong túi áo khoác đang mặc. Sau đó M tự giác đến Cơ quan Công an giao nộp khẩu súng và xin đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKSBN-P2 ngày 21/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Ngô Văn M về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là đúng người, đúng tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo: Ngô Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Đối với 01 (một) khẩu súng có đặc điểm là loại súng nén khí, bằng kim loại màu đen, có kích thước dài 98 cm, tay cò bằng nhựa màu đen, báng súng bằng kim loại màu đen, trên thân súng có dòng chữ Super X màu trắng, có gắn 01 ống ngắm kim loại hình trụ tròn chiều dài 32 cm, có 01 bình nén khí màu xanh lá cây chiều dài 31 cm là vật chứng trong vụ án thuộc vũ khí quân dụng hiện đang được bảo quản tại kho thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B cần tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo M đồng ý với nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
-
Về tội danh, hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng tháng 8 năm 2024, Ngô Văn M mua và cất giấu tại nhà 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, có kích thước dài 98 cm, tay cò bằng nhựa màu đen, báng súng bằng kim loại màu đen, trên thân súng có dòng chữ Super X màu trắng, có gắn 01 ống ngắm kim loại hình trụ tròn chiều dài 32 cm, có 01 bình nén khí màu xanh lá cây chiều dài 31 cm, là loại súng nén khí, bắn đạn bi sắt cùng 100 viên đạn bằng kim loại, hình cầu, đường kính khoảng 0,4 cm. Buổi tối ngày 12 tháng 02 năm 2025, M đem khẩu súng đến khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Ninh định sử dụng săn bắn chim thì bị lực lượng Công an phát hiện. Sau đó M tự giác đến Cơ quan Công an giao nộp khẩu súng và xin đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo gây ra.
Do đó, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Ngô Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của Nhà nước về tàng trữ và quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, xâm phạm an toàn công cộng. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
-
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo M có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo M đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và ấn định thời gian thử thách nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
-
Về vật chứng: Đối với 01 (một) khẩu súng có đặc điểm là loại súng nén khí, bằng kim loại màu đen, có kích thước dài 98 cm, tay cò bằng nhựa màu đen, báng súng bằng kim loại màu đen, trên thân súng có dòng chữ Super X màu trắng, có gắn 01 ống ngắm kim loại hình trụ tròn chiều dài 32 cm, có 01 bình nén khí màu xanh lá cây chiều dài 31 cm là vật chứng trong vụ án thuộc vũ khí quân dụng hiện đang được bảo quản tại kho thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B cần tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định của pháp luật.
-
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
-
Những vấn đề khác:
-
Đối với Trịnh Văn T2, không biết việc Ngô Văn M mua súng và cất giấu, tàng trữ súng. Buổi tối ngày 12/02/2025 T2 đi cùng Ngô Văn M nhưng khi đó M đã cất giấu tại khu vực bãi rác thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, khi gặp lực lượng Công an thì M cầm theo súng bỏ chạy, chưa sử dụng súng. T2 chỉ biết đặc điểm khẩu súng khi làm việc tại Công an huyện G, vì vậy không có căn cứ xử lý đối với T2 về hành vi không tố giác tội phạm hoặc đồng phạm với M là phù hợp.
-
Đối với đối tượng bán súng và 02 đối tượng giao súng cho M, do M không biết và không có thông tin gì về các đối tượng này nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được. Vì vậy, khi nào có đủ căn cứ và xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
-
-
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Ngô Văn M 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Ngô Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B tiếp tục quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 (một) khẩu súng khí nén, số hiệu 15365078 (Theo biên bản bàn giao súng pháo, khí tài giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B ngày 24/02/2025).
-
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Tiến Phúc |
Trần Minh Phương |
Nguyễn Trọng Trường |
Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 83/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Ngô Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
