Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2

QUẢNG NINH


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số 83/2025/HS-ST

Ngày 11 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Đức Thành và bà Nguyễn Thị Vịnh
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 77/2025/QĐXXST-HS ngày 27/10/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1992, tại tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: xóm L, xã G, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Tòa CT01, chung cư công nhân Công ty T4, tổ C, khu P, phường U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Trương Thị X; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/5/2025; tạm giữ từ ngày 30/5/2025 đến ngày 05/6/2025; tạm giam từ ngày 05/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: Luật sư Nguyễn Thị Thúy N - Công ty L1. Địa chỉ: số F, tổ C, khu F, phường H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh T5. Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Văn C – Phó giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh T5. Địa chỉ: số D đường Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa - có đơn xin xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty B1. Người đại diện theo ủy quyền: ông Đồng Quốc N1, sinh năm 1988. Nơi thường trú: tổ I, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
  2. anh Vi Văn D, sinh năm 1993. Nơi thường trú: Tòa CT01, chung cư công nhân Công ty T4, tổ C, khu P, phường U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
  3. anh Vũ Văn H, sinh năm 1998. Nơi thường trú: thôn Đ, N, Bắc Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  4. chị Đào Hoài T, sinh năm 1996. Nơi thường trú: TDP F, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt tại phiên tòa.
  5. Phòng G, số D B, phường V, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị H1 - Trưởng phòng G; địa chỉ: số D B, phường V, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  1. chị Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1988. Nơi thường trú: tổ B, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  2. anh Trần Đức L, sinh năm 1995. Nơi thường trú: tổ A, khu T, phường U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ B, khu T, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  3. anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1975 (Giám đốc phòng B1 - Ngân hàng TMCP Đ). Nơi thường trú: khu B, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu A, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  4. chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1978 (Phó giám đốc phụ trách tác nghiệp phòng B1 - Ngân hàng TMCP Đ). Nơi thường trú: tổ B, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  5. chị Bùi Thị H2 - Phòng G, số D B, phường V, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

  1. ông Vũ Đình Q, sinh năm 1962. Nơi thường trú: tổ A, khu T, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  2. anh Phạm Văn H3, sinh năm 1971. Nơi thường trú: tổ A, khu L, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  3. anh Phạm Văn T1, sinh năm 1987. Nơi thường trú: tổ B, khu Đ, phường Y, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  4. chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981. Nơi thường trú: tổ B, khu P, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  5. ông Hoàng Văn M, sinh năm 1962. Nơi thường trú: tổ A, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  6. ông Trần Ngọc K, sinh năm 1961. Nơi thường trú: tổ A, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn B là Công nhân Công ty T4, ở tại Khu chung cư công nhân của Công ty thuộc tổ C, khu P, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Do muốn có tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, B2 ý định chiếm đoạt tài sản. Ngày 26, 27/5/2025, Báo quan sát Phòng giao dịch B1 thuộc Chi nhánh T5, Ngân hàng Đ (B1) tại số E, tổ B, khu P, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh có ít người qua lại vào cuối giờ làm việc hàng ngày, nên nảy sinh ý định sẽ cướp tiền trong Phòng giao dịch này.

Đến ngày 29/5/2025, Báo mặc quần vải màu đen, áo thun màu xám, đi dép tô ong màu trắng, mang theo 01 ba lô màu đen - đỏ, bên trong có: 01 bộ quần áo học sinh màu xanh, 01 dao dạng gọt hoa quả dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, bản rộng khoảng 04cm, một cạnh sắc, mũi nhọn, chuỗi bằng nhựa màu đỏ; 01 đôi giày giả da màu kem, 01 túi nilon, 01 mũ lưỡi trai màu trắng (phần lưỡi trai màu đen). Sau đó, B hỏi mượn xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số 37C1-062.32 của anh Vi Văn D (làm cùng công ty với B), đi từ khu chung cư B ở đến khu vực bãi đất trống sau Siêu thị V1 tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, để tránh bị phát hiện, Báo tháo biển số xe mô tô giấu vào bụi cỏ, thay bộ quần áo học sinh và giày trong ba lô, cất bộ quần áo đang mặc và dép vào túi nilon, rồi treo lên cây bằng lăng. Tiếp đó, B điều khiển xe đến ngã ba gần Phòng giao dịch của Ngân hàng B1, dựng xe bên ngoài, cởi mũ bảo hiểm, đội mũ lưỡi trai, mang theo ba lô, rồi đi bộ đến vị trí Trạm biến áp đối diện quán Karaoke cạnh Phòng giao dịch của Ngân hàng để quan sát, chờ thời điểm thích hợp sẽ vào ngân hàng cướp tiền.

Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, thấy Phòng giao dịch Ngân hàng B1 vắng khách, Báo đi bộ vào trong, quan sát thấy quầy số 02 có nhiều cọc tiền để trên mặt bàn bên phải trước chỗ chị Nguyễn Thị Hồng N2 là giao dịch viên của Ngân hàng B1 đang làm việc với khách hàng. Báo đi đến, rút dao ra, đặt ba lô lên bàn, đe dọa và nói “Có bao nhiêu tiền ném vào đây hết”. Thấy chị N2 hoảng loạn, chưa kịp phản ứng, Báo nhảy lên bàn, trèo qua vách ngăn bằng kính vào bên trong quầy, lấy nhiều cọc tiền trên mặt bàn bỏ vào ba lô. Khi mọi người truy hô “Cướp!”, Báo nhanh chóng chạy thoát ra khỏi Phòng giao dịch, điều khiển xe mô tô trở lại vị trí đã chuẩn bị trước để thay lại trang phục ban đầu, gắn lại biển số xe. Sau đó, B điều khiển xe về Khu chung cư trả xe mô tô cho anh D (để ở nhà gửi xe), rồi về phòng sinh hoạt bình thường, mục đích đánh lạc hướng, tránh bị phát hiện.

Sau khi bị cướp, Phòng B1 Chi nhánh T5 - Ngân hàng Đ (B1) đã trình báo Công an tỉnh Q. Ngày 30/5/2025, qua rà soát camera và mở rộng hiện trường, Cơ quan điều tra phát hiện 01 ba lô màu đỏ đen, bên trong có 01 cuốn sổ y bạ mang tên Nguyễn Văn B tại khu đô thị T thuộc khu P, phường Y. Sau khi triệu tập, Báo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, chỉ dẫn các vị trí đã cất giấu tiền. Cơ quan điều tra đã thu giữ: tại khu vực bụi cỏ trong khu đô thị H gần chung cư Công ty T4, B3 tiền tại 03 vị trí thư giữ được tổng số: 335.900.000 đồng; tại vị trí dưới gầm cầu thang trong khu tập thể bỏ hoang của Trường Cao đẳng M1 tại khu G, phường T: 22.500.000 đồng. Báo còn chỉ dẫn vị trí cất giấu tiền tại phía sau căng tin của sân bóng Y, gần khu chung cư Báo ở, nhưng không thu giữ được tiền. Ngoài ra Báo giao nộp: 01 ví giả da bên trong có số tiền 4.200.000 đồng gồm nhiều tờ mệnh giá khác nhau (B khai nhận là tiền cướp tại Phòng giao dịch Ngân hàng B1), 01 điện thoại di động nhãn hiệu IQOOZ9 Turbo vỏ màu trắng, cùng sim: 0932.334.486, 01 xe môtô Honda wave, màu xanh, BKS biển số 37AT-043.27. Tổng số tiền Cơ quan điều tra đã thu giữ được là: 362.600.000 đồng.

Căn cứ vào tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn B, khám xét khẩn cấp tại phòng ở của Báo thu giữ: 02 quần vải, 01 áo phông, Báo khai là bộ quần áo Báo mặc sau khi cướp tiền về.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 30/5/2025 thể hiện: Hiện trường tại quầy số 02 Phòng Giao dịch B1. Khám nghiệm hiện trường thu thập được dấu vết in hình vân đế giày; thu dấu vết ngón tay phục vụ giám định và 01 video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ án. Mở rộng hiện trường tại khuôn viên lô A23 khu dân cư Yên Thanh thuộc Dự án T tại: tổ A, khu B, phường Y, phát hiện thu giữ các đồ vật gồm: 01 ba lô, 01 đôi giày, 01 dao kim loại có cán bằng nhựa màu đỏ, 01 áo màu xanh, 01 mũ lưỡi trai và 01 khẩu trang, 01 găng tay nilon.

Trích xuất camera an ninh tại Phòng B1, thể hiện: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 29/5/2025, xác định Nguyễn Văn B mang theo 01 ba lô và 01 con dao đến đe dọa chị N2 để cướp số tiền để trên bàn làm việc của chị N2, rồi chạy ra ngoài theo hướng bên phải của ngân hàng. Sau đó, B sử dụng xe máy màu đỏ đen, không gắn biển số bỏ chạy về hướng V thành phố U.

Tại biên bản làm việc với Phòng B1 Chi nhánh T5 - Ngân hàng Đ (B1) ngày 04/6/2025 và căn cứ tài liệu cung cấp, xác định số tiền Phòng B1 bị cướp là 417.277.000đồng.

Tại bản kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 19/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận đối với các đường vân thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, thể hiện: Các dấu vết đường vân bị chồng chéo, không thể hiện được đặc điểm chung, đặc điểm riêng ổn định, không đủ yếu tố giám định truy nguyên.

Tại bản kết luận giám định số 822/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

  • Trên các dấu vết thu tại Phòng B1 - Ngân hàng B1 chi nhánh T5 gửi giám định có dấu vết ADN người, kiểu gen phân tích không đủ yếu tố truy nguyên cá thể.
  • Trên ba lô, đôi giày, mũ lưỡi trai và con dao kim loại có cán bằng nhựa màu đỏ, gửi giám định có dấu vết ADN người, kiểu gen phân tích không đủ yếu tố truy nguyên cá thể.
  • Trên khẩu trang và áo gửi giám định có dấu vết ADN của Nguyễn Văn B. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với số tiền cướp được, Báo không biết cụ thể bao nhiêu, chỉ biết các cọc tiền nhiều loại mệnh giá 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ. Ngoài số tiền Cơ quan điều tra thu giữ được, B dùng 5.000.000 đồng để trả nợ tại cửa hàng F phường N, U, nạp 3.000.000 đồng vào tài khoản Viettel Pay tại cửa hàng Đ1 “Cường T3 mobi” tại phường T, U. Sau khi nạp tiền, Báo chuyển khoản 2.000.000đồng cho người yêu tên Đào Hoài T, sinh năm 1996, trú tại N, Đ, Quảng Bình và chuyển khoản trả nợ 1.000.000 đồng cho em Vũ Văn H, sinh năm 1998, nhà ở huyện G, tỉnh Bắc Ninh; một phần nhỏ cất trong ví giả da mang theo người (4.200.000đồng). Số còn lại chia nhỏ rồi cất giấu tại nhiều nơi, đã chỉ dẫn Cơ quan điều tra thu giữ được tiền. Riêng đối với địa điểm B4 cất giấu khoảng 40.000.000 đồng tại phía sau sân bóng Y, gần khu chung cư Báo ở, nhưng không thu giữ được tiền. Việc Phòng B1 trình báo mất số tiền 417.277.000đồng, B5 không có ý kiến gì.

Cáo trạng số 8089/CT-VKSQN-P2, ngày 29/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân công thực hành quyền công tố, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:

  • Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 16 đến 17 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/5/2025.
  • Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
  • Căn cứ các điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu, tiêu hủy: một số vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm balô, quần áo, giày dép, dao, khẩu trang, găng tay, ví, sim điện thoại và các túi nilon liên quan (theo mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2025 giữa Cơ quan điều tra và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2).
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động IQOO Z9 Turbo màu trắng.
  • + Trả lại cho anh Vi Văn D: 01 xe mô tô Yamaha Sirius BKS 37C1-062.32 cùng giấy đăng ký xe mô tô số 006662 mang tên Lô Văn H4.
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh BKS 38AT-043.27.
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường cho Công ty B1 số tiền 54.677.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận:

Vào các ngày 26, 27/5/2025, Báo quan sát Phòng giao dịch B1 thuộc Chi nhánh T5, Ngân hàng Đ (gọi tắt là B1) tại số E, tổ B, khu P, phường Y (nay là phường U), tỉnh Quảng Ninh có ít người qua lại vào cuối giờ làm việc hàng ngày nên nảy sinh ý định sẽ cướp tiền trong Phòng giao dịch này.

Khoảng 15 giờ ngày 29/5/2025, Báo mặc quần vải màu đen, áo thun màu xám, đi dép tổ ông màu trắng, mang theo 01 ba lô đen – đỏ, bên trong ba lô có 01 bộ quần áo học sinh màu xanh, 01 dao dạng gọt hoa quả dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, bản rộng khoảng 04cm, một cạnh sắc, mũi nhọn, chuôi bằng nhựa màu đỏ, 01 đôi giày giả da màu kem, 01 túi nilon và 01 mũ lưỡi trai màu trắng (phần lưỡi trai màu đen). Sau đó Báo mượn của anh Vi Văn D – làm cùng công ty T6 Mẫu 01 xe mô tô Yamha Sirius màu đỏ đen, BKS 37C1-062.32 đi từ khu chung cư nơi mình ở đến bãi đất trống sau siêu thị V1, thuộc tổ A, khu B, phường Y, thành phố U nay là khu B, phường U, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, để tránh bị phát hiện, Báo tháo biển số xe, giấu vào bụi cỏ, thay bộ quần áo học sinh và giày trong ba lô, cất bộ quần áo đang mặc và đôi dép vào túi nilon rồi treo lên cây bằng lăng. Sau đó, B điều khiển xe đến khu vực ngã ba gần Phòng B1, dựng xe bên ngoài, bỏ mũ bảo hiểm, đội mũ lưỡi trai, mang theo ba lô, rồi đi bộ đến khu vực T7 giao dịch để quan sát chờ thời điểm thích hợp thực hiện hành vi.

Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, thấy trong Phòng giao dịch vắng khách, Báo đi bộ vào trong, quan sát thấy tại quầy số 02 có nhiều cọc tiền để trên mặt bàn, phía trước giao dịch viên Nguyễn Thị Hồng N2 đang làm việc. Báo tiến đến, rút dao từ trong ba lô ra, đặt ba lô lên bàn, dùng dao uy hiếp và nói: “Có bao nhiêu tiền ném vào đây hết.” Thấy chị N2 hoảng loạn chưa kịp phản ứng, Báo liền nhảy lên bàn, trèo qua vách ngăn kính vào bên trong quầy, lấy nhiều cọc tiền mệnh giá từ 50.000đ đến 500.000₫ trên mặt bàn bỏ vào ba lô. Khi mọi người trong phòng hô “Cướp!”, B6 chạy ra khỏi Phòng giao dịch, lên xe mô tô điều khiển xe quay lại bãi đất trống sau V, thay lại trang phục ban đầu, gắn lại biển số xe, rồi điều khiển xe về khu chung cư gửi lại xe và sinh hoạt như bình thường. Trên đường về, Báo có qua khu vực khu đô thị H gần chung cư công ty T6 Mẫu chia nhỏ số tiền vừa cướp được và cất giấu tại 03 vị trí khác nhau trong các bụi cỏ ven đường và tập khu tập thể bỏ hoang thuộc trường Cao đẳng M1 tại khu G, phường T, thành phố U (nay là khu T, phường U), tỉnh Quảng Ninh, ngoài ra Báo còn giữ lại một phần tiền trong ví giả da và tiêu dùng cá nhân. Trong số tiền cướp được, B sử dụng 5.000.000 đồng để trả nợ tại cửa hàng F, phường N, thành phố U; đến cửa hàng điện thoại “Cường T3 mobi” tại phường T nạp 3.000.000 đồng vào tài khoản Viettel Pay, sau đó chuyển khoản 2.000.000 đồng cho bạn gái là Đào Hoài T (sinh năm 1996, trú tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình) và 1.000.000 đồng cho Vũ Văn H (sinh năm 1998, trú tại huyện G, tỉnh Bắc Ninh) để trả nợ; còn 4.200.000 đồng giữ lại trong ví để chi tiêu cá nhân. Ngày 30/5/2025, khi được Cơ quan điều tra triệu tập làm việc, Báo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, chỉ dẫn các vị trí cất giấu tiền như đã nêu trên; lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng bị Viện kiểm sát đã truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; về số tiền bị cáo cướp chưa bồi thường được cho Công ty bảo hiểm, bị cáo xin tự nguyện bồi thường toàn bộ và cam đoan sau khi xét xử sẽ tác động gia đình trả lại toàn bộ số tiền 54.677.000 đồng cho Công ty B1; nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

Bị hại Ngân hàng TMCP Đ (B1) khai đã nhận đầy đủ tiền bị chiếm đoạt và thiệt hại (gồm 402.277.000 đồng do Công ty B1 đã chi trả và 15.000.000đ phí bảo hiểm do Cơ quan điều tra trả lại), ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty B1 và người đại diện theo ủy quyền ông Đồng Quốc N1 khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa trình bày: Công ty B1 đã bồi thường thiệt hại cho ngân hàng B1 số tiền 402.277.000₫ (sau khi trừ đi phí 15.000.000₫ bảo hiểm). Công ty B1 đã được Cơ quan điều tra đã thu hồi và hoàn trả 362.400.000 đồng số tiền đã thu giữ, đồng thời chỉ yêu cầu bị cáo B phải tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu mà Công ty đã chi trả cho Ngân hàng B1 là 54.677.000đồng, không yêu cầu ai khác phải bồi thường.

  • Lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Đào Hoài T, Vũ Văn H, Bùi Thị H2 có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện phù hợp với lời khai của bị cáo về việc các anh chị được bị cáo chuyển tiền để trả nợ. Tuy nhiên anh chị không biết tiền này có nguồn gốc từ đâu và đã chi tiêu, sử dụng hết.
  • Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Vi Văn D có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn B về việc anh D được bị cáo B sử dụng ứng dụng Zalo nhắn tin hỏi mượn xe mô tô BKS 37C1-062.32 của anh, do xe của Báo đang bảo dưỡng không sử dụng được. Vì tin tưởng nên anh đồng ý, anh không biết B sử dụng xe vào mục đích phạm tội.

Người làm chứng: chị Nguyễn Thị Hồng N2 (giao dịch viên), có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện nhìn thấy quá trình cướp tài sản như nội dung nêu trên. Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 29/5/2025, chị N2 ngồi làm việc bình thường tại quầy số 2 dãy bàn phía trong của phòng giao dịch. Trong lúc làm việc, chị có nghe thấy tiếng mở cửa mạnh, quay ra cửa chính phòng giao dịch thì thấy một người nam giới mặc quần áo bảo hộ kín người màu xanh, khoác 01 chiếc ba lô sau lưng, đội mũ lưỡi trai màu trắng và đeo khẩu trang sáng màu nên tôi không nhìn rõ mặt. Lúc đầu chị nghĩ đó là khách hàng bình thường, nhưng khi người này đi đến quầy giao dịch, bất ngờ người này quăng ba lô xuống bàn và tay trái cầm một con dao (dài khoảng 30cm, cán đen, lưỡi sáng màu), chĩa về phía chị và hô lớn: “Cho tiền vào đây”. Chị N2 lúc đó là hoảng sợ, đứng im, không hành động gì. Lúc này, người thanh niên này đã nhảy qua quầy, đứng cạnh chị và dùng tay nhặt các cọc tiền mặt (gồm mệnh giá 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng và tiền mệnh giá nhỏ), giá trị khoảng hơn 400.000.000 đồng là tiền của Ngân hàng, bỏ vào ba lô. Sau khi bảo vệ anh C1 (trưởng phòng) hô lớn: “Cướp” và chạy ra ngoài thì nam thanh niên cướp tiền cũng nhảy qua quầy, chạy ra ngoài.

  • Lời khai những người làm chứng: anh Nguyễn Văn C1 (trưởng phòng), anh Trần Đức L (nhân viên); ông Hoàng Văn M (bảo vệ Phòng giao dịch) chị Nguyễn Thị Lan A (khách đến làm việc) tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ thể hiện nhìn thấy quá trình cướp tài sản phù hợp với lời khai của bị cáo và chị Nguyễn Thị Hồng N2.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: Luật sư Nguyễn Thị Thúy N - Công ty L1 bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với tội danh và điều luật như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thiếu hiểu biết pháp luật, sau khi bị cáo phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để thu hồi tiền khắc phục hậu quả, nhanh chóng giải quyết vụ án, cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Không đồng ý với quan điểm của người bào chữa về việc áp dụng đồng thời các tình tiết giảm nhẹ b, t, s. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm có cơ sở áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS; không áp dụng điểm t “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm...” vì đã được tính trong căn cứ “tự nguyện khắc phục hậu quả” theo điểm b. Không đồng ý áp dụng khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 về mức thấp nhất khung hình phạt, vì bị cáo là người trưởng thành, mặc dù hoàn cảnh khó khăn nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vẫn lựa chọn phạm tội; hành vi cướp tiền tại ngân hàng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, cần xử lý nghiêm để răn đe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và nội dung trích xuất hình ảnh camera giám sát, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 29/5/2025, tại Phòng B1 chi nhánh T5 thuộc Ngân hàng Đ (B1) tại số E, tổ B, khu P, phường U, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn B đã có hành vi dùng 01 dao nhọn đe dọa nhân viên của Ngân hàng, chiếm đoạt số tiền 417.277.000 đồng (Bốn trăm mười bẩy triệu, hai trăm bẩy mươi bẩy nghìn đồng) của Ngân hàng Đ. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đây là một trong những quyền được pháp luật Nhà nước bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản cáo trạng số 8089/CT-VKSQN-P2, ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo, thấy: Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, trước khi phạm tội bị cáo đã theo dõi lên kế hoạch, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đây là một trong những quyền được pháp luật Nhà nước bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để thu hồi tiền khắc phục hậu quả, nhanh chóng giải quyết vụ án, nên chỉ chấp nhận 1 phần đề nghị của Người bào chữa, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do bị cáo phạm tội với số tiền quá lớn, gần kịch khung hình phạt nên không chấp nhận đề nghị của Người bào chữa xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.

[3] Về hình phạt:

[3.1]Hình phạt chính:

- Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Nguyễn Văn B là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được việc cướp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi mong muốn có tiền, thiếu ý thức rèn luyện bản thân, nên đã lợi dụng việc có ít người qua lại vào cuối giờ làm việc hàng ngày của văn phòng giao dịch ngân hàng để thực hiện cướp tiền, điều đó thể hiện sự liều lĩnh trong thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến tài sản của và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc giải quyết vụ án, thu hồi được phần lớn tài sản, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không còn công việc và không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và phạt quản chế, cấm cư trú đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với: các vật chứng thu giữ tại hiện trường (gồm túi ba lô màu đen kích thước khoảng (0,6x0,45)m; 01 đôi giày màu trắng, cỡ 41, trên mỗi giày có chữ Fashion; 01 túi nilon màu xanh; 02 túi dạng lưới màu trắng có dây thắt màu tím; 01 sổ y bạ bìa màu hồng, ghi tên Nguyễn Văn B; 02 túi nilon loại hình vuông, màu đen – trắng còn nguyên vỏ dính liền vào nhau kích thước (0,05x0,05)m mỗi chiếc, trên mặt bao cao su có chữ “Nakanishi strong men's” và nhiều chữ tượng hình; 01 dao dài khoảng 0,34m, bản dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 22cm, chỗ rộng nhất là 04cm, cán dao bằng nhựa màu đỏ; 01 áo màu xanh dài tay, trên áo in chữ “Trường Cao đẳng than – Khoáng sản Việt Nam”; 01 mũ lưỡi trai màu trắng sọc đen có chữ “N 86 Brooklyn Twenty”; 01 khẩu trang vải kẻ sọc trắng, đen, xanh; 01 găng tay nilon trong suốt); Vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Báo (01 quần vải màu xanh, loại quần dài đã qua sử dụng; 01 quần vải loại quần dài màu đen đã qua sử dụng; 01 áo phông vải, phần cổ áo và tay áo màu trắng, thân áo màu cam) và Vật chứng thu giữ khi giữ khẩn cấp Báo gồm: 01 ví giả da đã qua sử dụng là tài sản, vật được sử dụng vào mục đích phạm tội, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu IQOO Z9 Turbo, đã qua sử dụng, mặt sau màu trắng, là tài sản, vật được sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • Đối với các đồ vật, tài sản thu giữ của anh Vi Văn D gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 37C1-062.32; 01 đăng ký xe mô tô số 006662, BKS 37C1-062.32 mang tên Lô Văn H4 thuộc sở hữu của anh D và xe mô tô BKS 37AT-043.27 thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm phạm tội, nên cần trả lại cho anh Vi Văn D và bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • Đối với Bị hại Ngân hàng TMCP Đ (B1) đã nhận đầy đủ tiền bị chiếm đoạt và thiệt hại (gồm 402.277.000 đồng do Công ty B1 đã chi trả và 15.000.000₫ phí bảo hiểm do Cơ quan điều tra trả lại), ngoài ra không còn yêu cầu nào khác nên không đề cập xử lý.
  • Đối với Công ty B1 đã chi trả 402.277.000 đồng (trừ đi 15.000.000đ phí bảo hiểm) tiền bảo hiểm cho Ngân hàng B1, Cơ quan điều tra đã thu hồi và hoàn trả 362.400.000 đồng. Tại phiên tòa Công ty B1 có quan điểm chỉ buộc bị cáo phải trả số tiền còn lại là 54.677.000 đồng, không yêu cầu ai khác phải bồi thường. Bị cáo cũng đồng ý với đề nghị phía công ty B1. Xét thấy đây là quan điểm tự nguyện về sự thỏa thuận của các bên và là thiệt hại chưa được khắc phục nên cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại cho Công ty B1 số tiền 54.677.000 đồng.

[6] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với chị Đào Hoài T, anh Vũ Văn H và Phòng G, số D B, phường V, tỉnh Quảng Ninh, không biết nguồn gốc số tiền Báo chuyển và trả nợ do phạm tội mà có, Bị cáo Báo và Công ty B1 đều thống nhất được về việc bồi thường thiệt hại nên không cần thiết buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả lại số tiền đã nhận từ bị cáo, vì vậy không đề cập xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định;

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    - Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Cướp tài sản”.
    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 30/5/2025.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải trả cho Công ty B1 số tiền 54.677.000 đồng (Năm mươi bốn triệu, sáu trăm bẩy mươi bẩy nghìn đồng).
    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) túi ba lô màu đen kích thước khoảng (0,6x0,45)m đã qua sử dụng; 01 (Một) đôi giày màu trắng, cỡ 41, trên mỗi giày có chữ Fashion đã qua sử dụng; 01 (Một) túi nilon màu xanh đã qua sử dụng; 02 (Hai) túi dạng lưới màu trắng có dây thắt màu tím đã qua sử dụng; 01 (Một) sổ y bạ bìa màu hồng, ghi tên Nguyễn Văn B đã qua sử dụng; 02 (Hai) túi nilon loại hình vuông, màu đen – trắng còn nguyên vỏ dính liền vào nhau kích thước (0,05x0,05)m mỗi chiếc, trên mặt bao cao su có chữ “Nakanishi strong men's” và nhiều chữ tượng hình; 01 (Một) dao dài khoảng 0,34m, bản dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 22cm, chỗ rộng nhất là 04cm, cán dao bằng nhựa màu đỏ; 01 (Một) áo màu xanh dài tay, trên áo in chữ “Trường Cao đẳng T8 – Khoáng sản Việt Nam” đã qua sử dụng; 01 (Một) mũ lưỡi trai màu trắng sọc đen có chữ “N 86 Brooklyn Twenty” đã qua sử dụng; 01 (Một) khẩu trang vải kẻ sọc trắng, đen, xanh đã qua sử dụng; 01 (Một) găng tay nilon trong suốt đã qua sử dụng; 01 (Một) quần vải màu xanh, loại quần dài đã qua sử dụng; 01 (Một) quần vải loại quần dài màu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) áo phông vải, phần cổ áo và tay áo màu trắng, thân áo màu cam đã qua sử dụng; 01 (Một) ví giả da đã qua sử dụng; 01 (Một) phôi sim điện thoại.
    - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IQOO Z9 Turbo, mặt sau màu trắng.
    - Trả lại cho anh Vi Văn D: 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, mầu sơn đen – đỏ, biển kiểm soát 37C1-062.32 và 01 đăng ký xe mô tô, máy số 006662, biển kiểm soát 37C1-062.32 mang tên Lô Văn H4.
    - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 37AT-043.27.
    (Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 03/THADS-KV2, vào hồi 11 giờ, 00 phút, ngày 01 tháng 10 năm 2025 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 8091/QĐ-VKSQN-P2 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 3; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.733.850 đồng (Hai triệu, bẩy trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh;
  • Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • Viện kiểm sát ND khu vực 2 - Quảng Ninh;
  • Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • CQTHAHS Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh;
  • Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về cướp tài sản

  • Số bản án: 83/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Báo phạm tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 của Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger